Đình – Nghè Ngọc Lâu – Cẩm Giàng – Hải Dương

Ngọc Lâu xưa là mảnh đất được hình thành từ rất sớm do quá trình bồi đắp phù sa của sông Cẩm Giàng – một chi lưu của sông Thái Bình. Quá trình tồn tại, địa danh Ngọc Lâu nhiều lần thay đổi, điều chỉnh phù hợp với yêu cầu của thời đại.

Vào năm Vĩnh Thịnh thứ 2 (1706), Ngọc Lâu là một xã của huyện Lang Tài, phủ Thuận An, trấn Kinh Bắc. Năm Minh Mệnh thứ 18 (1837) được cắt chuyển về huyện Cẩm Giàng, phủ Thượng Hồng, trấn Hải Dương. Năm Tự Đức thứ 33 (1880), Ngọc Lâu là một xã thuộc tổng Bằng Quân, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương.

Từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, Ngọc Lâu là một trong sáu thôn: Ngọc Lâu, Kim Đôi, Phượng Hoàng, Phí Xá, Quý Khê và 19/5 của xã Cẩm Hoàng, tỉnh Hải Dương.

Cũng như nhiều làng xã khác thuộc đồng bằng, trung du bắc bộ, người Ngọc Lâu xưa đã sớm xây dựng đình và nghè để sinh hoạt cộng đồng và tôn vinh người có công với đất nước.

Căn cứ vào “Thần tích xã Ngọc Lâu” do Hàn lâm viện Đông các Đại học sĩ Nguyễn Bính phụng soạn năm Hồng Phúc nguyên niên (1572), được Quản giám bách thần Tri điện Hùng lĩnh thiếu khanh Nguyễn Hiền phụng sao năm Vĩnh Hựu thứ 3 (1737), thì đình Ngọc Lâu là nơi  thờ Lục vị danh tướng thời Hùng Vương thứ 6 là: Lôi công chi thần, Long công chi thần, Lân công chi thần, Hoàng công, Bội công và Chấn công. Hành trang của các danh tướng, tuy đã được nhân dân qua các thời suy tôn dưới nhiều hình thức khác nhau, song có thể tóm tắt như sau:

Tương truyền vào thời Hùng Vương thứ 6, tại huyện Từ Liêm, phủ Quốc Oai, đạo Sơn Tây (?), nước ta có một người họ Trần, tên Phương, tài đức vẹn tròn được vua tin dùng. Bấy giờ tại phủ Thuận An, đạo Kinh Bắc xảy ra nạn trộm cướp quấy nhiễu nhiều lần, song quan quân địa phương không dẹp nổi, vua liền giao cho Phương công nhậm chức tại phủ Thuận An. Phương công chia bổng lộc cho người nghèo, chỉ hơn một tháng nạn trộm cướp đã dẹp yên.

Tại trang Ngọc Lâu, tổng Bằng Quân, bản huyện có một vị trưởng quan tên là Hồ công, ông có một người con gái là Hồ Thị Ngọc đẹp nết, đẹp người. Biết tin Phương công cho mời Hồ công đến thết đãi và tỏ ý muốn lấy Ngọc nương làm vợ. Năm tròn tháng đủ, đến ngày 11 tháng ba năm Quý Mão (?) Ngọc  nương sinh được một con trai đặt tên là Lôi công, đến ngày 12 tháng 3 lại sinh tiếp ba cậu con trai đặt tên là: Long công, Lân công và Hoàng công. Tiếp đến ngày 15 tháng 3  lại sinh thêm hai cậu con trai đặt tên là Bội công và Chấn công, trưởng thành các ông đều tài kiêm văn, võ.

Năm 20 mươi tuổi, cha mẹ các ông đều lần lượt qua đời. Biết các ông là người  có tài, thần uy lẫm liệt, có thể giúp nước, vua liền giao cho Lôi công nhậm chức huyện Thiện Tài, Long công nhậm chức huyện Siêu Loại, Lân công nhậm chức huyện Tiên Du, Hoàng công nhậm chức huyên Tế Giang, Chấn công nhậm chức huyện Đường An. Nhân dân hết thảy đều yêu mến các ông.

Không đầy 3 năm sau, nước nhà có nạn giặc Ân (?) do tướng Thạch Linh cầm đầu mang 30 vạn quân giao chiến quyết liệt. Vua cử sứ giả đi khắp nơi cầu hiền. Một hôm sứ giả đến xã Phủ Đổng, huyện Tiên Du, phủ Từ Sơn, đạo Kinh Bắc thấy có một gia đình phú ông sinh được một người con trai đã 3 tuổi rồi mà không biết nói, biết cười…Biết sứ giả đến, cậu bé bật nói và bảo mẹ cho mời sứ giả vào…được trang bị ngựa sắt, roi sắt và cho ăn no, bỗng nhiên cậu bé trở thành một người cao lớn phi thường, cùng các chư ông ra trận dẹp giặc, giặc Ân thua đậm tướng Thạch Linh bị bắt và giết.

Đất nước trở lại thanh bình, vua phấn khởi và phong tặng cho Lôi công làm Nguyên soái đại tướng, Long công làm Tả đạo binh nhung đại tướng quân, Lân công làm Hữu đạo đô đốc đại tướng quân, Hoàng công làm Thái tể đại tướng quân, Bội công làm Thống chế đại tướng quân, Chấn  công làm Đốc lãnh hầu đại tướng quân, đồng thời vua cho phép các công làm đại vương sống ngụ lộc tại trang Ngọc Lâu.

Ngày 15 tháng 8 năm đó (?) các chư ông phụng mệnh đón sắc về ở tại Ngọc Lâu, truyền cho binh sĩ mở tiệc mời nhân dân bản trang cùng vui vẻ, sau đó ông ra bờ sông ít lâu và tự “hoá”, hôm đó là ngày 10 tháng 3. Thương xót bậc bề tôi tài giỏi có công với nước, vua truyền ban sắc phong Thượng đẳng phúc Thần. Trải qua các triều đại, Lục vị danh tướng đều được tôn thờ và ban mỹ tự.

Hàng năm theo điển lệ, chính quyền địa phương tổ chức lễ hội trọng thể tưởng niệm các danh tướng. Lễ hội kéo dài từ ngày 10 đến ngày 15 tháng 3 âm lịch, thu hút đông đảo các tầng lớp nhân dân cùng tham gia, trong đó trọng hội là ngày 10 tháng 3 tưởng niệm ngày “hoá” của các vị. Ngày trọng hội với hoạt động rước và tế diễn ra trong không khí đặc biệt thiêng liêng của làng xã, nhân dân rước từ đình ra nghè rồi rước trở lại theo một trình tự tín ngưỡng chặt chẽ, nêu cao tinh thần tôn vinh người có công với đất nước.

Đình và nghè Ngọc Lâu được khởi dựng từ năm nào hiện chưa có tài liệu nào xác định ? Song căn cứ vào thần tích và dấu vết kiến trúc hiện còn, có thể ghi nhận nghè Ngọc Lâu xây dựng từ khá sớm, ban đầu chỉ đơn giản là tranh, nứa lá… Còn đình Ngọc Lâu xây dựng vào khoảng đầu thời Lê Mạc (thế kỷ XVI). Nghè thờ Thành hoàng giáng ngự quanh năm, đình là nơi sinh hoạt văn hoá làng xã và thờ vọng Thành hoàng, chỉ những ngày lễ hội nhân dân mới rước bài vị về để cúng tế trọng thể.

Cả hai di tích trải qua trùng tu, tu sửa nhiều lần trong thời Nguyễn vào các năm: Minh Mệnh thứ 15 (1834), Minh Mệnh thứ 18 (1837), Tự Đức thứ 5 (1852), Đồng Khánh thứ 2 (1887), Thành Thái thứ 4 (1892), Khải Định nguyên niên (1916) và Khải Định thứ 2 (1917).

Ngôi đình hiện còn được trùng tu vào năm Đồng Khánh thứ 2 (1887). Kiến trúc kiểu chữ  “đinh” (J) gồm 5 gian đại bái kiểu đao dĩ và 2 gian hậu cung được xây kiểu “bít đốc quai chảo”. Kết cấu khung vì nhà đại bái kiểu “chồng rường” truyền thống. Lòng mái mở theo thức “thượng ngũ hạ lục”. Hậu cung kết cấu cùng kiểu dáng của đại bái, lòng mái mở theo thức “thượng ngũ, hạ tứ” con chồng đấu vuông đơn giản không có chạm khắc gì đặc biệt.

Trang trí điêu khắc mỹ thuật được các nghệ nhân tập trung thể hiện tại gian đại bái, chủ yếu là bốn bức cốn “tứ linh”. Hai bức cốn trước bố cục từ trên xuống dưới gồm: phượng, rồng, sư tử, tranh châu và rùa ẩn trong lá sen; dưới cùng là hình ảnh long mã, cá chép nô rỡn trên thuỷ ba cùng với những chú cua bò ngang. Hai bức cốn trong gắn với không gian, đặc biệt thiêng liêng được chạm khắc “long quần” gồm một con rồng lớn đang cuộn mình giữa mây lửa, xen kẽ có hình sư tử tranh châu và nghê cầm biển tự. Mặt sau của các cốn chạm khắc hình ảnh: tùng, cúc, trúc, mai ở tư thế “hoá rồng khác nhau. Có thể coi đây là những tác phẩm nghệ thuật có giá trị, đáng chú ý là mặt trước nhà Đại bái còn lưu giữ được bốn đầu dư được chạm khắc vào thời Hậu Lê (thế kỷ XVII – XVIII) với kỹ thuật chạm bong, chạm lộng đẹp mắt xứng đáng là những tiêu bản nghiên cứu nghệ thuật điêu khắc dân gian.

Cách đình khoảng 700 m về phía Tây nam có ngôi nghè là nơi thờ chính của Thành hoàng. Công trình xây dựng từ khá sớm, trùng tu vào đầu thế kỷ XX, kiến trúc kiểu chữ “đinh” (J) gồm 3 gian tiền tế và 1 gian hậu cung xây “bít đốc quai chảo”. Kết cấu khung vì kiểu “giá chiêng”. Ngôi nghè có quy mô khiêm tốn song về trang trí nghệ thuật đạt giá trị cao thể hiện sự tài hoa của các nghệ nhân xưa.

Trải qua năm tháng và chiến tranh, đình và nghè Ngọc Lâu còn bảo lưu được nhiều di vật, cổ vật quý, trong đó có 10 đạo sắc phong thời Nguyễn vào các năm: Tự Đức thứ 33 (1880), Đồng Khánh thứ 2 (1887), Duy Tân thứ 3 (1909), Khải Định thứ 9 (1924). Đáng chú ý có 5 tấm bia ghi nhận quá trình trùng tu, tôn tạo di tích do các tầng lớp nhân dân đóng góp công đức vào các năm: Vĩnh Thịnh thứ 2 (1706), Minh Mạng thứ 15 (1834), Thành Thái thứ 4 (1892), Minh Mạng thứ thứ 18 (1837) và Khải Định thứ 2 (1917). Đây là những tư liệu lịch sử có giá trị, phục vụ công tác nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn cần thiết được bảo tồn lâu dài.

Căn cứ vào nội dung giá trị lịch sử, khoa học và  nghệ thuật của di tích, Bộ Văn hoá Thông tin đã ra Quyết định  số 06/2004/QĐ-BVHTT, ngày 18 tháng 2 năm 2004 xếp hạng đình, nghè Ngọc Lâu là di tích Quốc gia, thuộc loại hình kiến  trúc nghệ thuật.

Nghiên cứu khoa học về đình, nghè Ngọc Lâu là thiết thực góp phần bảo tồn di sản văn hoá dân tộc. Di tích thờ Lục vị danh tướng thời Hùng
Vương thứ 6 có công tham gia đánh giặc Ân bảo vệ đất nước. Đây chính là chứng tích vật chất gắn liền với truyền thuyết lịch sử có giá trị giáo dục truyền thống yêu nước cho cán bộ và nhân dân, nhất là thế hệ trẻ ngày nay với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Hải Dương – Di tích và Danh thắng

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *