Trần Cao Vân và thuyết Trung Thiên dịch

Trần Cao Vân là nhân vật trọng yếu tổ chức cuộc khởi nghĩa ở Huế và một số tỉnh phía Nam Trung Bộ dự định vào ngày 3/5/1916 nhưng không thành – cuộc khởi nghĩa đó thường được gọi là khởi nghĩa Duy Tân.

 

“Trung Thiên dịch” kêu gọi lòng yêu nước

Trần Cao Vân
Trần Cao Vân

Trần Cao Vân người làng Tư Phú, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Trần Cao Vân tên thật là Trần Công Thọ, sinh năm 1866, khi đi học lấy tên là Trần Cao Đệ, khi tham gia hoạt động cứu nước lấy tên là Trần Cao Vân. Thời trẻ ông học giỏi nhưng không đỗ đạt gì. Ông thường du ngoạn các nơi, nhất là các tỉnh miền Nam, tìm bạn với những người có chí hướng chống thực dân Pháp xâm lược.

Năm 1887, sau thất bại của phong trào Nghĩa hội Quảng Nam, Trần Cao Vân vào chùa Cổ Lâm. Đến năm 1892, ông vào Bình Định, mở trường dạy học và làm thầy địa lý.

Năm 1895, ông gặp Võ Trứ, một thầy chùa yêu nước ở Phú Yên. Tới năm 1898, cuộc khởi nghĩa Võ Trứ nổ ra, Trần Cao Vân là một thành viên chủ chốt trong bộ chỉ huy. Sau khi cuộc khởi nghĩa bị đàn áp, Võ Trứ bị giặc Pháp bắt, ông nhận mọi trách nhiệm về mình. Trần Cao Vân cũng bị bắt, nhưng vì không có bằng chứng gì nên thực dân Pháp chỉ giam ông 11 tháng rồi thả. Sau khi được tự do, Trần Cao Vân trở về quê dạy học, soạn ra sách “Trung Thiên dịch” (Kinh dịch của Phục Hy gọi là Tiên Thiên, Văn Vương chỉnh lý lại gọi là Hậu Thiên, Trần Cao Vân sửa chữa và thêm bớt một số ý kiến gọi là Trung Thiên). Trong sách này ngoài những thứ thái cực, lưỡng nghi, bát quái bí hiểm ra, Trần Cao Vân lồng vào đó những lời kêu gọi lòng yêu nước.

Năm 1900, ông trở về Bình Định tiếp tục dạy học và truyền bá thuyết “Trung Thiên dịch”. Số người lui tới với Trần Cao Vân ngày càng đông. Dân chúng đua nhau bàn tán về “Trung Thiên dịch” khiến nhà cầm quyền vô cùng lo sợ. Thực dân Pháp lại cho bắt ông vì tội xúi giục dân làm loạn. Ông bị kết án tử hình, sau giảm xuống khổ sai, bị giam trong ba năm.

Đọc thơ trước giờ hành quyết

Hết hạn giam cầm, năm 1908, ông tham gia phong trào “xin xâu chống thuế” nên lại bị bắt, bị kết án khổ sai chung thân và đày đi Côn Đảo. 6 năm sau ông được tha, trở về quê quán ông lại tiếp tục hoạt động chống thực dân Pháp. Năm 1915, ông tham gia Việt Nam Quang phục hội và cùng với Thái Phiên trở thành hai nhân vật chủ chốt trong cuộc khởi nghĩa năm 1916.

Chính ông là người đã thuyết phục vua Duy Tân và vận động binh lính (bị mộ đưa sang Pháp để làm lính nước ngoài đánh quân Đức) còn đóng ở Huế nổi lên khởi nghĩa. Nhưng việc không thành, vì bị lộ vua Duy Tân bị đày sang đảo Reunion ở châu Phi. Trần Cao Vân và Thái Phiên bị quân Pháp bắt và bị chém ở cửa An Hoà (Huế) ngày 17/5/1916. Trước khi bị hành quyết, Trần Cao Vân đã đọc 4 câu thơ:

“Trời chung không đội với thù Tây

Quyết trả ơn vua nợ nước này

Một mối ba giềng xin giữ chặt

Thân dù thác xuống rạng đài mây”.

Lúc đầu thi hài Trần Cao Vân và Thái Phiên bị thực dân Pháp vùi lấp cùng với hai người đồng chí là Phan Thành Tài và Lê Đình Dương. Gia đình xin về cải táng nhưng không được. Sau một nữ đồng chí đã lén dời mộ hai ông về một ngôi chùa ở Huế. Về sau do sợ bị Pháp phát hiện nên thi hài hai ông được chôn chung một huyệt tại một ngọn đồi ở ngoại ô Huế. Trên mộ có khắc 8 chữ “Trần Cao quý công, Thái Duy quý công”.

Ghi nhận những tinh thần yêu nước quả cảm của ông, Hà Nội đã lấy tên ông đặt cho một đường phố ở phường Thịnh Yên, phía sau khu tập thể Nguyễn Công Trứ. TP Đà Nẵng đã lấy tên ông đặt cho một con đường lớn.

Tất Đạt

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *