Chuyện Người bịt hầm bắt Tướng Đờ Cát

…Tôi lăm lăm cây súng trên tay tiến về phía De Castries (Đờ Cát). Khi tôi đến gần, Đờ Cát vội đứng phắt dậy trên chiếc ghế mà ông ta đang ngồi, giơ tay ra định bắt. Lúc đó, tay tôi nhanh chóng áp sát thúc mạnh khẩu súng vào bụng Đờ Cát. Vị bại tướng lùi lại hai bước, toàn thân run rẩy, miệng xổ ra một tràng tiếng Pháp… “Xin các ông đừng bắn, tôi xin đầu hàng…”. Gần 60 năm đã trôi qua nhưng những hồi ức của người lính già Đào Văn Hiếu về trận đánh Điện Biên Phủ năm ấy và thời khắc định mệnh bịt hầm bắt sống Tướng Đờ Cát vẫn nguyên vẹn.

HoDang01_1

Cụ “Hiếu điếc” (cụ Đặng Văn Hiếu – PV), là cái tên trìu mến mà người dân thôn 8 (xã Nga Hưng, huyện Nga Sơn, Thanh Hóa) thường gọi ông. Ông là một trong năm người vinh dự nhận nhiệm vụ bắt sống Tướng Đờ Cát trong trận Điện Biên Phủ lừng lẫy năm 1954, một nhân chứng sống của chiều ngày 7/5 lịch sử ấy.

Trong căn nhà 3 gian cấp 4 nằm trong con ngõ hẻm, chúng tôi vinh dự được được tiếp chuyện cùng cụ Hiếu. Năm nay đã ngoài “bát thập”, tuy không còn khỏe mạnh và nhanh nhẹn, nhưng giọng nói chắc nịch, dứt khoát, dường như vẫn còn nguyên chất lính.

Thời khắc lịch sử và bài ca không bao giờ quên

Năm 1951, Đặng Văn Hiếu được cử về Đại đội 360, Tiểu đoàn 130, Trung đoàn 209 thuộc Đại đoàn 312. Sau chiến dịch 56 ngày đêm, Đại đội 360 do Đại đội trưởng Tạ Quốc Luật trực tiếp chỉ huy đánh vào cứ điểm Him Lam và cứ điểm E1, D2, cứ điểm 505A, 506… Trận đánh đồi C2 của chiến dịch (ngày 4 và 5/5/1954). Vì chiến dịch diễn ra ác liệt nên cả ta và địch đều thương vong rất nhiều. Cụ Hiếu kể: “Ban đầu, Đại đội tôi có 150 chiến sĩ, nhưng đến ngày 6/5 chỉ còn lại 34 chiến sĩ . Khi đó chúng tôi lại nhận được lệnh của Bộ Chỉ huy là phải nhanh chóng triệu quân đánh tiếp, nhiệm vụ của đơn vị là mở đường vây 209 đánh thẳng vào Mường Thanh, bắt sống Tướng Đờ Cát lập công mừng sinh nhật Bác Hồ. Năm đó, đơn vị của chúng tôi nhận được lệnh đánh từ đêm mùng 6/5. Đánh ròng rã suốt đêm đến 8h sáng ngày 7/5 khi đó đơn vị tôi còn lại 5 anh em đó là Đại đội trưởng Tạ Quốc Luật (quê ở Thái Bình), Nghĩa Lam (quê ở Nghệ An), Hoàng Đặng Vinh (quê ở Hải Hưng), Bùi Văn Nhỏ (quê ở Nghệ An) và Tôi – Đào Văn Hiếu (quê ở Thanh Hóa).

HoDang01_2_mini

Những phần thưởng là những Huân, Huy chương Đảng và Nhà nước đã trao tặng ông

 

Theo một mạch cảm xúc ông lại kể cho chúng tôi nghe về 5 người may mắn sống sót: “Khi đến cầu Mường Thanh thì cả 5 người bị hỏa lực địch bắn trả quyết liệt ngay cầu không cho sang. Ngay sau đó, được sự hỗ trợ hỏa lực từ khẩu DKZ của quân ta, rất nhanh cả 5 người vượt qua cầu và tiến vào khu vực được coi là trung tâm đầu não của địch. Nhiệm vụ của 5 người lúc này là tìm và bắt sống Tướng Đờ Cát. Lúc bấy giờ khói bụi mịt mù, chúng tôi chỉ thấy nhấp nhô hầm hào, lô cốt, không ai biết hầm Đờ Cát ở đâu. Đột nhiên từ ngách hào trước mặt, một tên lính dõng xuất hiện, giơ tay đầu hàng. Anh Luật quát: “Hầm Đờ Cát ở đâu?” Tên lính chỉ vào cái ụ đất cao được bao bọc bởi dây kẽm gai. Chúng tôi nhanh chóng chạy tới nơi tên lính chỉ điểm. Phát hiện ra hầm có hai cửa. Anh Luật nhanh trí phân công Hiếu, Lam tấn công cửa phía Bắc, Luật, Vinh và Nhỏ tấn công cửa phía Nam bịt đường chạy của địch. Khi đó cả hai hướng đều tập trung tấn công và tiểu liên tiêu diệt hai ụ pháo ở hai đầu hầm, xông xuống chỗ Tướng Đờ Cát và quân lính của hắn trú ngụ. Khi đó là khoảng 17h ngày 7/5/1954. Khi vào sâu trong hầm, chúng tôi nhanh chóng chĩa nòng súng vào tốp địch dưới hầm, rồi anh Luật nói to và dõng dạc với đại ý là “bỏ súng xuống, giơ tay lên! Các ông thua rồi”. Khi đó tôi thấy một số sĩ quan Pháp đang đốt tài liệu, số thì ngồi trên ghế trước sơ đồ tác chiến, ai nấy đều run rẩy, bất ngờ, mặt tái mét.. Anh Luật ra lệnh tôi vào áp giải Tướng Đờ Cát. Theo lệnh Đại đội trưởng, tôi tiến về phía Đờ Cát. Khi tôi đến gần, Đờ Cát vội đứng phắt dậy trên chiếc ghế mà ông ta đang ngồi, giơ tay ra định bắt. Lúc đó, tôi nhanh chóng áp sát thúc mạnh khẩu súng vào bụng Đờ Cát. Vị bại tướng lùi lại hai bước, toàn thân run rẩy, miệng xổ ra một tràng tiếng Pháp. Thật tình, lúc đó tôi chả hiểu gì. Sau này, nghe anh Luật kể lại, lúc đó hắn nói: Xin các ông đừng bắn, tôi xin đầu hàng !. Sau đó, chúng tôi dẫn Đờ Cát và Bộ Tham mưu của ông ta, 34 người, đến cầu Mường Thanh thì gặp quân ta đi vào. Chúng tôi bàn giao tù binh cho Sư đoàn trưởng Thăng Bình rồi ôm lấy nhau hò reo chiến thắng.

 

HoDang01_3_mini

Người chiến sỹ trẻ Đào Văn Hiếu cùng các cháu thiếu nhi tại Lễ kỉ niệm 10 năm ngày giải phóng Điện Biên Phủ (1954 – 1964)

 

Giữa đời thường vẫn tươi nguyên chất lính

Năm 1975, khi kết thúc nghĩa vụ ông Hiếu trở về quê hương mang trên mình thương tật 61%. Trở về với đời thường ông Hiếu vẫn tích cực tham gia đóng góp vào các hoạt động công tác xã hội ở địa phương (lúc làm Bí thư Chi bộ thôn, rồi trưởng thôn đến Hội Cựu chiến binh…) nhưng trong sâu thẳm tâm thức của “người lính già” vẫn hy vọng một ngày được sum vầy cùng đồng đội năm xưa. Rồi mong muốn bấy lâu cũng đã đến với ông: “Tôi còn nhớ hôm đó là ngày 3/3/1999, qua phương tiện thông tin đại chúng anh Vinh (Hoàng Đăng Vinh, một trong số 5 người tham gia bắt Tướng Đờ Cát – PV) nhắn tìm đồng chí Đào Văn Hiếu. Thông tin đó đến được với tôi khi Hội Cựu chiến binh huyện Nga Sơn đến thăm hỏi gia đình. Sau đó tôi chủ động liên lạc tìm gặp anh. Niềm vui vỡ òa khi gặp nhau: Chúng tôi đã khóc trong tiếng gọi: Vinh lì, Hiếu điếc. 5 người lính ngày ấy đến bây giờ gặp lại chỉ còn tôi và anh Vinh. “Đại Đội trưởng Tạ Quốc Luật và Bùi Văn Nhỏ đã không còn nữa. Còn về đồng chí Nguyễn Lam, chúng tôi vẫn chưa có thông tin gì!”

Năm nay đã 81 tuổi ông cùng người vợ già sống nương tựa vào nhau trong căn nhà nhỏ đơn sơ, vui vầy với đàn con cháu để sống hết những ngày tháng còn lại.

Đã gần 60 năm trôi qua, nhưng dấu ấn về trận chiến lịch sử đó vẫn còn ghi dấu trong tâm trí người lính già – một ” nhân chứng sống” của một thời lịch sử hào hùng vang dậy năm châu.

 

HoDang01_4_mini

Ông Đặng Văn Hiếu bình dị giữa đời thường

 

Anh Toản

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *