Mối tình của vị tướng với GĐ.Nhà hát Tuổi trẻ đầu tiên

Trên những quãng đường thanh bình, rợp bóng mát tại khu chung cư Mỹ Đình I – Hà Nội, chiều chiều người dân nơi đây vẫn còn nhớ mãi một đôi vợ chồng già nắm tay nhau đi dạo. Ông luôn nắm tay bà thật chặt, mạnh mẽ, thắm thiết, như họ đã từng xoắn xuýt nắm tay nhau đi suốt mấy chục năm qua.

 

Mặc dù mấy tháng nay, trên con đường ấy chỉ một mình ông đi dạo, nhưng người ta vẫn thấy niềm vui và hạnh phúc ẩn hiện đâu đó trong đôi mắt ông, bởi dù hai người ấy có xa nhau hàng ngàn cây số thì họ vẫn luôn nắm chặt tay nhau trong tâm tưởng, trong tình yêu và nỗi nhớ.

Ông là Lê Thanh – Thiếu tướng Bộ Tổng Tham mưu, Bộ Quốc Phòng và bà là Đạo diễn Hà Nhân – Nguyên Cục trưởng Cục Biểu diễn nghệ thuật, Bộ Văn hóa; Nguyên Giám đốc đầu tiên của nhà hát Tuổi trẻ.

Gặp nhau có lẽ cũng bởi duyên trời

Sau gần 60 năm chung sống, giờ nghĩ lại những ngày tháng đã qua, Thiếu tướng Lê Thanh luôn nở một nụ cười mãn nguyện. Bởi duyên trời đã cho ông có được một người bạn đời “như ý”, một người đồng chí, một cộng sự và một người vợ, người mẹ vẹn toàn.

Mặc dù, xét về môn đăng hộ đối thời ấy thì ông vẫn còn kém xa bà lắm, ông chỉ có một tài sản duy nhất là lòng yêu nước và ý chí cách mạng của một anh bộ đội Cụ Hồ.

Ông bà vốn sinh ra trong 2 gia đình có hoàn cảnh khác nhau. Bà sinh ra ở Huế, ông sinh ra ở Hà Nội nhưng lại chung một quê, và sau này khi lớn lên, họ lại cùng gặp nhau ở một điểm đó là lòng yêu nước và ý chí cách mạng.

Ông Lê Thanh bên vợ - bà Hà Nhân
Ông Lê Thanh bên vợ – bà Hà Nhân

 

Thiếu tướng Lê Thanh vốn xuất thân trong một gia đình nông dân nghèo, bố mất sớm, nhưng ông được một người chú cho đi học đến Đệ Nhị thành chung. Trong thời gian theo học, ông đã bắt đầu tham gia vào các hoạt động cách mạng.

Cũng chính vì tham gia hoạt động mà ông đã bị thực dân Pháp bắt giam ở trại Cửa Bắc – Hà Nội, cho đến ngày Nhật đảo chính Pháp, ông mới có thể tìm cách thoát thân, rồi từ đó về lại quê nhà gây dựng cơ sở cách mạng và tìm cách bắt liên lạc với tổ chức.

Ngày mới về lại quê, ông bị bắt phải ngồi ở nhà vì gia đình sợ ông bị bắt.Không có cách nào để liên lạc được với tổ chức, từ đó ông mới nghĩ ra rằng, chỉ khi ông tổ chức được một hoạt động nào đó thì ắt hẳn tổ chức Đảng sẽ tìm ra.

Trước hết, ông cho thành lập các lớp dạy chữ quốc ngữ. Nhưng dạy chữ thì người dân chỉ cho con gái đi học mà không cho con trai đi vì sợ rằng ông sẽ dụ dỗ họ đi hoạt động, vì lúc đó nhân dân chưa hiểu rõ về cách mạng.

Trên cơ sở đó, ông đã xin với chính quyền huyện cho thành lập các đội dân vệ để bảo vệ dân làng. Ban đầu ông chủ yếu dạy hát, dạy võ nghệ để mọi người quen dần rồi mới từ từ giảng giải về cách mạng và bàn cách hành động cho nhân dân trong xã.

Sau này, khi phong trào khởi nghĩa vũ trang cướp chính quyền nổ ra, dưới sự chỉ đạo của đồng chí Lê Trọng Tấn, Thiếu tướng Lê Thanh đã cùng với những người đồng chí trong đội dân vệ đã đứng lên tước vũ khí của trại lính Bảo An của Nhật.

Khi Cách mạng Tháng Tám nổ ra, ông chính là người đi tiên phong cùng đội dân vệ đứng lên hô hào quần chúng cướp chính quyền.

Cũng thông qua các tổ chức này mà Thiếu tướng Lê Thanh đã có cơ hội được làm việc cùng với 2 người đồng chí nữa trong đội dân vệ, chính 2 người này về sau đã trở thành những “ông tơ bà nguyệt” để ông bà có cơ hội gặp và yêu nhau.

Để rồi, ông cứ nhớ mãi cô bé mặc bộ đồ trắng là bà hàng ngày vẫn cầm chiếc bát đi qua nhà bác (nơi ông và các anh bà họp) để mua cháo lòng cho cha, rồi sau này lớn lên, cô là một trong những cán bộ Việt Minh hoạt động sôi nổi nhất huyện Ứng Hòa ngày ấy.

Gia đình Thiếu tướng Lê Thanh
Gia đình Thiếu tướng Lê Thanh

Bà vốn sinh ra trong một gia đình nề nếp, cũng được xếp vào hàng có của ăn của để trong vùng. Cha bà là công chức của Sở công chính thủy lợi nên thường xuyên phải đi xa để giám sát công trình. Vì thế mà bà và các anh chị được sinh ra tại Huế và sống một thời gian khá dài ở đây.

Cho đến năm 1937, gia đình bà mới chuyển về thôn Quảng Phú Cầu – huyện Ứng Hòa. Thế nhưng cũng do tính chất công việc của cha mà bà thường xuyên phải đi học xa, khi thì ở Hà Nam, khi thì lên Hà Nội, lúc lại về Phủ Ứng Hòa.

Có lẽ cũng chính bởi môi trường đó mà bà đã trở thành một cô gái mạnh mẽ và sôi nổi. Khi phong trào Cách mạng ở địa phương diễn ra mạnh mẽ, cùng với những người anh, người chị của mình, bà đã từ bỏ cuộc sống đầy đủ và được nuông chiều để thoát ly theo cách mạng.

Trong thời gian cùng tham gia hoạt động phong trào Việt Minh tại địa phương, 2 người thi thoảng gặp nhau và cũng có cảm tình, nhưng tình cảm trai gái giữa họ chỉ dừng lại ở đó, chỉ hơi “loáng thoáng” thôi.

Dường như giữa ông bà lúc đó có một cam kết không lời là “phải đặt sự nghiệp lên trên hết. Phải gác tình riêng để lo nghĩa lớn”. Thiếu tướng Lê Thanh cười kể lại: Cái thời ngày xưa của ông bà là như thế. Rất thật. Mà ai cũng nghĩ như thế cả, chứ không như bây giờ.

Mấy năm sau, Thiếu tướng Lê Thanh lên đường Nam tiến, mặc dù ông không khỏi vấn vương, yêu thầm nhớ trộm người con gái cùng quê, rất nhiệt thành và tận tâm với phong trào cách mạng, người con gái có tên Lê Thị Tiến (tức Hà Nhân).

Nhưng chí trai đã định, ông quyết giã từ quê hương, chia tay bè bạn, lên đường theo tiếng gọi của Đảng. Từ đó mỗi người một nơi, bà cũng tham gia vào bất cứ phong trào nào mà Đảng giao phó, cùng đi tới mọi miền quê của Tổ quốc và họ bặt tin nhau từ đó cho đến mấy năm sau.

Năm 1951, khi nghe tin bà qua 2 người anh trai, ông đã viết cho bà lá thư đầu tiên, cũng là lá thư tỏ tình với bà bằng một tình yêu trong sáng và có cả lòng cảm phục của một người đồng chí. Lá thư ấy sau này được bà lưu giữ rất cẩn thận.

Chuyện tình “không thể tin nổi”

Đó là câu nói mà khi còn sống, cố Đạo diễn Hà Nhân vẫn thường nói vui khi kể về câu chuyện tình của mình. Bà nói, có lẽ khi kể về chuyện của bà, nhiều bạn trẻ sẽ trợn mắt ngạc nhiên mà thốt lên rằng “không thể tin nổi”, nhưng đúng là như thế.

Mà không phải chỉ có chuyện của bà, những ai đã từng tham gia kháng chiến, những người sống cùng thế hệ với bà đều phải công nhận điều đó.

Ngày ấy, những chuyến hành quân, những chuyến đi công tác đặc biệt là các diễn viên của Đoàn văn công, do điều kiện ăn ở còn thiếu thốn nên có nhiều đêm tất cả các thành viên trong Đoàn, kể cả nam và nữ đều ngủ chung một lán mà chẳng hề có chuyện “động trời” gì xảy ra cả.

Có lẽ khi đó, lý tưởng cao cả, những suy tư trong sáng về cách mạng, về giá trị và nhân phẩm con người, niềm khát khao cống hiến cho sự nghiệp chung đã lấn át hết tất cái “tôi” với nhu cầu thường tình trong mỗi cá nhân.

Ngày ấy, sau khi tiễn Thiếu tướng Lê Thanh lên đường, bà cũng lăn xả lao vào công tác phụ vận, rồi được cấp trên xin chuyển bà sang làm bên văn hóa.

Trong thời gian đó đã có không ít người con trai để ý đến bà và muốn gắn bó cuộc đời mình với bà, nhưng trong trái tim bà vẫn chỉ có hình ảnh chàng thanh niên nghèo nhưng thông minh và gan dạ là Lê Thanh ngự trị.

Sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, Thiếu tướng Lê Thanh lên đường vào Nam chiến đấu. Đến năm 1946, ông bị thương ở mặt trận Buôn Mê Thuột và được đưa ra Hà Nội để chữa trị. Khi vết thương còn chưa lành hẳn, Hà Nội lại chìm ngập trong bom đạn kẻ thù, ông đã cùng với Tiểu đoàn 56 trực tiếp chiến đấu tại mặt trận Ô Cầu Dền, và trên các tuyến phố Hà Nội.

Sau 60 ngày đêm chiến đấu, ông nhập vào đoàn quân Tây Tiến lên vùng Sơn La, Lai Châu rồi sang nước bạn Lào làm công tác tuyên truyền, giác ngộ cách mạng, để nhân dân nơi đây cùng đoàn kết chống lại giặc ngoại xâm.

Sau gần chục năm lăn lộn khắp các chiến trường, bặt tin người con gái quê nhà, nhân một lần được gặp người anh rể của đạo diễn Hà Nhân cùng đi công tác, ông mới có cơ hội được biết thông tin về bà, về những việc mà bà làm, về cả vụ “đối đầu” giữa bà với địch khi bà bị bắt ở hang Bò, khu di tích Trại Sơn.

Địch đã thất bại vì đã không khai thác được gì ở bà và cuối cùng chúng phải thả bà ra. Chính bởi khâm phục lòng quả cảm, ý chí sắt đá của bà và đặc biệt là khi biết được bà vẫn một lòng thủy chung chờ đợi ông dù gia đình cũng đã thúc giục rất nhiều và xung quanh có bao nhiêu chàng trai theo đuổi, ông càng thêm yêu, thêm trọng bà và ông đã quyết định viết lá thư tỏ tình đầu tiên vào năm 1951.

Rồi một lần đi công tác qua Đoàn văn công Liên khu III đóng tại Hà Nam, ông đã tìm gặp bà, gặp nhau, ông bà mừng vui, hồi hộp, rồi ngồi rỉ rả tâm tình với nhau trọn đêm.

Mà một đêm sao mà ngắn quá với 2 người yêu nhau, chỉ tay trong tay, mắt nhìn mắt,… thế thôi! Chứ không một hành động “quá trớn”, không một ham muốn “phàm tục”. Tình yêu thời đó là vậy!

Đêm đó, Thiếu tướng Lê Thanh đã nói cho bà biết tại sao ông lại quyết định viết thư cho bà vào thời điểm ấy. Vì khi ông đang công tác trong đoàn quân tình nguyện tại Lào, ông có nghe tin bà bị địch bắt ở Hải Phòng, bà đã kiên cường đấu tranh, không để chúng lợi dụng khai thác được gì.

Khi biết được tin ấy, ông đã liên tưởng bà đến hình tượng Zôia – người con gái anh hùng của Liên Xô, càng khiến ông thêm yêu quý bà hơn. Nghe ông nói vậy bà chỉ trả lời: “Ai ở hoàn cảnh của Hà Nhân cũng sẽ làm vậy thôi”!

Sau một đêm trắng, 2 người càng hiểu rõ về nhau và càng cảm phục nhau hơn. Họ chia tay nhau trong lưu luyến, nhưng biết làm sao được khi mà đất nước chưa sạch bóng quân thù. Ông bà chỉ biết nắm tay nhau nhắn nhủ, hẹn ngày đất nước hòa bình!

Khoảng 2 năm sau lần gặp gỡ ấy, ông bà chỉ có điều kiện đến với nhau qua những lá thư mỏng manh nhưng đầy ắp yêu thương, nhung nhớ!

Đến một ngày đẹp trời vào tháng Chạp năm Bính Thân, 1957, ngày vui của ông bà được tổ chức tại Lạng Sơn – nơi ông đang công tác. Khi đó Thiếu tướng Lê Thanh đang là Tham mưu trưởng Sư đoàn 332 kiêm Tham mưu trưởng Quân khu Đông Bắc.

Còn đạo diễn Hà Nhân đang công tác tại Văn công Trung ương. Trong ngày vui nhất của đời người con gái, bà đã không có được đầy đủ cha mẹ, anh em 2 bên tham dự. Về gia đình chỉ có anh trai bà là Lý Văn Lư có mặt.

Các đồng chí lãnh đạo Quân khu Đông Bắc và sư đoàn 332 làm chủ trì hôn lễ và là đại diện nhà trai. Còn lãnh đạo Đoàn văn công Trung ương và anh chị em diễn viên là đại diện họ nhà gái.

Trong hôn lễ, đứng trước mọi người, trái tim bà đã rung lên với nhiều cung bậc cảm xúc khác nhau: vui cũng thật vui mà buồn cũng thật buồn. Vui vì mối tình của ông bà đã trải dài theo 9 năm kháng chiến và 2 năm đất nước vào hòa bình nay đã được đơm hoa kết trái. Thật là hạnh phúc vô bờ bến.

Nhưng cũng thật buồn, vì trong ngày vui trọng đại ấy lại không có mặt của những người thân thiết. Nắm tay ông, lòng bà ngập tràn hạnh phúc nhưng có lúc phải lén quay đi để lau vội giọt nước mắt rưng rưng, mằn mặn.

Sau ngày cưới, ông bà chỉ được ở gần nhau vài ngày ngắn ngủi, rồi nghiệp nhà binh lại cuốn ông đi, những buổi diễn theo đoàn cũng đưa bà đi suốt các dặm đường. Mỗi người lại mải miết theo đuổi những công việc với tính chất, loại hình thật khác xa nhau, nhưng lại có một điểm chung là những chuyến công tác dài rong ruổi.

Tuy vậy cả ông và bà đều hiểu rằng, cuộc đời họ từ đây đã gắn bó chặt chẽ với nhau, dành cho nhau trọn vẹn tình cảm đôi lứa, dù đang kề cận bên nhau hay phải cách xa hàng ngàn vạn dặm. Ngay cả khi họ đang sống ở 2 thế giới khác nhau thì tình yêu đó vẫn không bao giờ thay đổi.

Khi nhắc đến bà, ánh mắt ông đượm buồn nhưng vẫn ánh lên một tình thương yêu và tự hào. Dường như, bà vẫn hiện hữu trong ngôi nhà nhỏ ấm áp này.

Kết quả của mối tình son sắt và những khó khăn của người vợ trẻ

Nhớ lại những ngày tháng chiến tranh gian khổ, Thiếu tướng Lê Thanh không khỏi cảm phục và tự hào về người vợ của mình. Bà đã phải tự thân vận động, vừa nuôi con, vừa công tác.

Mỗi lần sơ tán là “tay xách nách mang” nhưng chưa bao giờ bà bị cấp trên khiển trách vì lơ là trong công việc, không những thế, bà còn là “đầu tàu” dẫn dắt cả đoàn tàu sân khấu của nhà hát Tuổi trẻ chèo chống, băng qua mọi khó khăn để rồi khi nhìn lại những đứa con đã lớn, nhà hát đã trưởng thành còn ông bà thì 2 mái đầu đã ngả bạc.

Để có được nghị lực phi thường ấy, ngoài tình yêu và đam mê với nghề, cố đạo diễn Hà Nhân còn luôn có một tình yêu son sắt, thủy chung với người chồng, người đồng chí, mà dù ông bà không có điều kiện ở gần nhau, không được chồng chăm sóc, giúp đỡ, nhưng tình yêu mà ông bà dành cho nhau mà kết quả là những đứa con kháu khỉnh chính là động lực giúp bà cố gắng!

Một năm sau ngày cưới (tức năm 1958), bà Hà Nhân sinh người con trai đầu lòng, đặt tên là Lê Tiến. Cái tên ấy là sự kết hợp của họ cha và tên mẹ, đó “cũng chính là để kỷ niệm mối tình gắn bó bền vững của chúng tôi” như cố đạo diễn Hà Nhân đã từng chia sẻ trong cuốn hồi ký của mình.

Thời gian này, Thiếu tướng Lê Thanh vẫn đóng quân ở xa, chỉ có bà tự xoay xở, vừa nuôi con vừa công tác. Trong căn buồng rộng chừng 8m2, chỉ đủ để kê chiếc giường vừa ngủ vừa là nơi làm việc, phần còn lại cũng chỉ đủ để kê một chiếc cũi cho con và một cái bàn ăn nhỏ.

Dù điều kiện còn khó khăn, nhưng nhìn con khôn lớn mỗi ngày, đó là niềm vui vô tận và là động lực để ông bà phấn đấu.

Đến năm 1966, đứa con thứ hai của ông bà ra đời. Tình cảm vợ chồng ông vẫn nguyên vẹn như hồi mới gá nghĩa nên ông bà đã quyết định đặt tên con là Lê Thanh Hà. Tên được ghép từ họ tên cha và tên mẹ.

Giai đoạn này, đế quốc Mỹ đang mở rộng chiến tranh phá hoại ra miền Bắc. Ngày đêm chúng đánh phá ác liệt vào những nơi có tầm chiến lược trọng điểm. Thủ đô Hà Nội là một trong những tầm ngắm chiến lược của chúng.

Vì thế bà phải đưa Lê Thanh Hà sơ tán về vùng Văn Lâm – Hưng Yên, còn Lê Tiến thì phải gửi về quê ngoại. Điều kiện sống và làm việc ở nơi sơ tán thật thiếu thốn và vất vả.

Bà luôn phải gồng mình gánh vác nhiệm vụ của một đạo diễn lưu động; rồi tham gia lớp tập huấn cho diễn viên nhà hát chèo, Tuồng Bắc, Cải Lương Bắc, Kịch Hà Nội và Trung ương,… lại vừa phải lo chăm con, công việc cuốn bà sâu vào vòng xoáy khiến bà không thể nào dứt ra được.

Khi Thanh Hà mới tròn 14 tháng tuổi, bà lại phải cắn răng chịu đựng rời xa đứa con còn trứng nước khóc đòi sữa mẹ để tiếp tục sang Liên Xô học tiếp và bảo vệ luận án tốt nghiệp Đại học Sân khấu Quốc gia Matxcova theo chỉ thị của Bộ Giáo dục.

Đến cuối năm 1970, sau khi về nước, bà sinh người con thứ ba, là một bé gái kháu khỉnh có tên Lê Thanh Mai. Cái tên ấy là do 2 người anh lớn giành phần đặt, và vợ chồng ông rất vui. Thế nhưng không may, Thanh Mai bị thủy đậu chạy vào phổi, vì cả bố và mẹ đều bận công tác, trong khi đó điều kiện kinh tế còn hết sức khó khăn nên đã không qua khỏi.

Ngày đứa con ra đi, bà tưởng chừng như bị quật ngã, nỗi đau mất con đã khiến bà có lúc nản lòng. Nhưng rồi lại vì công việc, vì có biết bao diễn viên đang chờ bà, bà vẫn còn đó 2 người con trai cần bà chăm sóc… Tất cả những điều đó giúp bà tiếp tục cố gắng, ngày đêm lao vào công việc và nỗi đau cũng dịu dần.

Những năm tháng khó khăn của thời chiến tranh đã qua đi, Nhà hát Tuổi Trẻ đã trưởng thành và đã có chỗ đứng trong lòng khán giả cả nước. Những đứa con của bà cũng đã lớn khôn, đã yên bề gia thất. Người bạn đời của bà cũng đã kết thúc những tháng ngày rong ruổi nơi các chiến trường. Ông vẫn trở về lành lặn bên bà, để ngày ngày, ông bà có điều kiện ngồi ngắm nhìn những đứa con của mình khôn lớn, trưởng thành.

Tình yêu của họ đã trải dài suốt cả cuộc đời – một tình yêu duy nhất dành cho nhau, từ khi còn đầu xanh tuổi trẻ cho đến tận bây giờ, khi một người đã về cõi vĩnh hằng, thì mãi mãi vẫn không có gì thay đổi được.

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *