VÀI SUY NGHĨ VỀ VAI TRÒ CỦA VĂN HOÁ GIA ĐÌNH, VĂN HOÁ DÒNG HỌ TRONG CÔNG CUỘC XÂY DỰNG NỀN VĂN HOÁ ĐẬM ĐÀ BẢN SẮC DÂN TỘC VIỆT NAM

Trong công cuộc đổi mới, thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước hiện nay, một nhiệm vụ hết sức quan trọng là phải ra sức xây dựng một nền văn hoá đậm đà bản sắc dân tộc đi đôi với sự nỗ lực xây dựng và phát triển kinh tế xã hội của đất nước.

 

Việc xây dựng một nền văn hoá đậm đà bản sắc dân tộc Việt Nam đòi hỏi phải sử dụng nhiều biện pháp, trong đó biện pháp phát huy vai trò của văn hoá gia đình ( cả “gia đình hạt nhân” lẫn “gia đình mở rộng” và văn hoá gia tộc trong việc giữ gìn và phát huy các giá trị di sản văn hoá dân tộc có thể và cần phải được coi là biện pháp quan trọng hàng đầu.

Chúng ta ai cũng biết rằng ở Việt Nam cũng như ở nhiều dân tộc khác ở Phương đông, gia đình và dòng họ có một vị trí rất quan trọng trong tổ chức đời sống cộng đồng. Gia đình Việt Nam là một tổ chức cơ sở bao gồm nhiều thành viên gắn bó với nhau
bằng huyết thống, nghĩa tình, xây dựng thành một tổ ấm tinh thần và vật chất để giáo dục con cái, đóng góp và giữ gìn văn hoá dân tộc. Mỗi gia đình là một tế bào của xã hội, vì vậy tất cả mọi gia đình đều phải tốt thì xã hội

mới phát triển bền vững và lành mạnh được. Như vậy gia đình có một vị trí hết sức quan trọng trong xã hội, trong đời sống cộng đồng, có vai trò to lớn trong việc giáo dục các thành viên trở thành người công dân tốt, có ít cho xã hội, cũng như trong việc sản sinh và giữ gìn văn hoá dân tộc. Không những thế, trong quan niệm của người dân, nhà ( gia đình ) là gắn liền với
nước, nhà ( gia đình ) tiếp thu di sản văn hoá của nước, bảo vệ nước và đóng góp công sức cho nước. Vì vật trong truyền thống đạo đức của dân tộc ta, gia đình, văn hoá gia đình rất được coi trọng.

Tuy nhiên, ở Việt Nam, đối với đời sống cộng đồng, vai trò của gia đình không lớn bằng vai trò của gia tộc (dòng họ ).

Xét về thành phần cấu tạo thì gia đình (đơn vị cơ sở ) và gia tộc (dòng họ – đơn vị cấu thành ) đều do những người cùng huyết thống gắn bó mật thiết với nhau tạo thành. Vì vậy, ở
Việt Nam cũng như ở nhiều nước phương Đông, gia đình và gia tộc đều được coi trọng như nhau. Tuy nhiên giữ các dân tộc phương Đông cũng thấy có một sự khác biệt rất tế nhị về vai trò của gia đình và gia tộc. Chẳng hạn như ở Trung Quốc xưa ( thuộc loại hình văn hoá nông nghiệp gốc du mục ), vai trò của gia đình lớn hơn vai trò của gia tộc (Nho giáo rất coi trọng gia đình – “ Tề gia, trị quốc, bình thiên hạ” ). Còn ở Việt Nam xưa ( thuộc loại hình văn hoá nông nghiệp gốc nông nghiệp ) thì vai trò của gia tộc (dòng họ) có phần lớn hơn vai trò của gia đình (“Trong họ, ngoài làng” là quan niệm chi phối đời sống của người dân đối với mỗi người dân, họ phải làm tròn bổn phận với hai đối tượng quan trọng nhất : bên trong là họ hàng, bên ngoài là làng xóm ). Sức mạnh gia tộc, ý thức gia tộc thể hiện ở tinh thần đùm
bọc, yêu thương nhau. Người trong một họ có trách nhiệm cưu mang nhau về vật chất, hỗ trợ nhau về trí tuệ, tinh thần và dìu dắt nhau, làm chỗ dựa cho nhau về mặt xác lập địa vị xã hội “
Một người làm quan cả họ được nhờ”). Ở Việt Nam, mỗi thành viên trong gia đình không chỉ chịu sự ràng buộc của văn hoá gia đình, mà còn phải chịu sự chi phối của văn hoá gia tộc nhiều khi còn khắt khe hơn sự chi phối của văn hoá gia đình. Sự chi phối của văn hoá gia tộc thể hiện ở chỗ mỗi họ đều có gia pháp, gia lễ, gia phong, gia qui, gia đạo … Vì vậy khi một thành viên trong họ vi phạm gia pháp, gia phong ( như trường hợp phụ nữ có chồng mà ngoại tình ) thì họ hàng họp lại quyết định hình thức trừng phạt (“Gọt gáy bôi vôi”). Mỗi thành viên trong họ không chỉ có bổn phận tuân thủ gia lễ, gia phong, gia pháp, mà còn có bổn phận phải cố gắng học hành, đỗ đạt để làm rạng rỡ cho dòng họ, xóm làng; phải luôn nuôi dưỡng trong mình lòng tự tôn gia tộc. Ở Việt Nam, ý thức gia tộc thể hiện mạnh mẽ ở nhiều thiết chế văn hoá gia tộc như nhà từ đường, nhà thờ tổ, lễ giỡ tổ ( tế tổ ), lập gia phả ( thực chất là tộc phả ), trong đó việc giỗ tổ ( tế tổ ), lập gia phả ( tộc phả ) là hết sức quan trọng, vì nó gắn kết mọi thành viên trong gia tộc lại với nhau với tinh thần luôn ghi nhớ công ơn của tổ tiên, hiểu rõ nguồn gốc và sự phát triển, sự chuyển dịch, sự thịnh suy của dòng họ. Như vậy, ở Việt Nam cùng với khái niệm “dân hoá dân tộc”, các khái niệm “ văn hoá gia đình”, “ văn hoá gia tộc ” là những khái niệm cần được coi trọng, phát huy để làm cơ sở cho sự phát triển bền vững của cả xã hội và của đất nước, cũng như cho sự hình thành một nền văn hoá rực rỡ đậm đà bản sắc dân tộc Việt Nam.

Sức mạnh gia tộc, ý thức gia tộc ngoài những mặt tích cực nêu trên, trong xã hội cũ, dưới thời phong kiến, cũng có một số mặt hạn chế như tư tưởng bản vị, cục bộ dẫn đến tranh chấp quyền lợi, địa vị trong làng (ngày xưa gọi là “nạn xôi thịt”), đôi khi có cả đổ máu. Nhưng dù sao, những mặt hạn chế đó chỉ là thứ yếu mà trong thời đại ngày nay hầu như đã mất dạng.

Từ những phân tích nêu trên, chúng ta có thể đi đến nhận định rằng: Để xây dựng một nền văn hoá đậm đà bản sắc dân tộc Việt Nam, chúng ta cần phải phát huy tối đa vai trò của văn hoá gia đình, văn hoá gia tộc (dòng họ ), nhất là văn hoá gia tộc, bảo tồn và phát triển những mặt tích cực của chúng nhằm chống lại những cuộc tấn công của các tệ nạn xã hội – con đẻ của mặt trái của nền kinh tế thị trường và   của   hội   nhập   quốc   tế         ./.

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *