THỐNG KÊ VÀ KHẢO CỨU VỀ CÁC HỌ TỘC VIỆT NAM

Thời Nguyễn (1802 – 1945) chưa thấy có sách nào thống kê những họ tộc của người Việt Nam. Chỉ có sách bách khoa toàn thư: “LỊCH TRIỀU HIẾN CHƯƠNG” của Phan Huy Chú, có quyển Nhân vật chí đã có nhắc sơ qua nguồn gốc một số danh nhân. Riêng bộ sách “Đại Nam Liệt Truyện” cũng có ghi được gốc tích các dòng họ của các bà Chính Phi, Hoàng Hậu là họ ngoại của các Chúa, các Vua Nguyễn.

 

Ngoài ra, có một số đại quan, như Trương Đăng Quế, Trịnh Hoài Đức, Trần Tiễn Thành, Nguyễn Tri Phương, Lê Văn Duyệt, Nguyễn Văn Thụy được nhắc tới quê quán, gốc nguồn từ đâu? Như các quí tộc: Tống Phúc, Trương Phúc, Nguyễn Khoa, Nguyễn Cửu, Nguyễn Hữu, Đào Duy (Bình Định), Trần Đức (Hòa), Nguyễn Đình (dòng cụ Ư Ty – Kỷ), Nguyễn Đăng (gốc Nghệ An, gốc Trịnh) họ Trần Đình (Quảng trị), họ Nguyễn Dương Lâm (gốc Thanh Hóa, nhập tịch Thuận Hóa, phò Chúa Tiên, Chúa Sãi, Chúa Thượng). Chi họ Nguyễn Đức (Phú Xuân), chi họ Nguyễn Hữu Doãn, chi họ Tống Hồ, Tống Hữu và họ Võ ở Hòa Luật (Lê Thụy, Quảng Bình) là các họ tộc Danh Gia Thế Phiệt phò các Chúa Nguyễn ở Đàng Trong.

Phuthodentho1
Đền thờ Phú Thọ

Quốc sử Quán Huế và các Nho Gia triều Nguyễn thường căn cứ và tin ở sách “Bách Gia Tính”, đã thống kê hơn 500 Gia Tính (Họ Tộc) ở Trung Quốc trước thời Tống, sau thời Đường và thường cho “Trăm họ Việt” đều có gốc xa từ Trung Quốc? Nên đa số các Cổ Phả của nhiều tộc họ miền Trung đều “mắc bệnh sai lầm” hoang tưởng đã cho các họNguyễn gốc ở Trần Lưu Quận, họ Trần gốc ở Dĩnh Xuyên Quận, họ Phạm gốc ở Cao-Bình Quận, họ Huỳnh (Hoàng) ở Giang Hà Quận, họ Võ Vũ) gốc ở Thái Nguyên Quận, họ Đặng gốc ở Nam Dương Quận, họ Trương có gốc ở Thanh Hà Quận, họ Phan ở Vinh Dương Quận … v.v. Nhưng thật sự không rõ các Quận đó ở bên Trung Quốc thuộc tỉnh nào? Mà thực chất các họ Việt Nam không liên hệ huyết thống, quê quán gì với những họ bên Tàu? Chỉ là “Ốc mượn Hồn”, mang danh nghĩa họ Tàu do bị ép buộc phải có dưới thời Bắc thuộc mà thôi! Nếu phải tìm nguồn gốc các họ Việt Nam, thì chỉ nên căn cứ ở các Trấn, Huyện, Xã của nước Đại Việt xưa thôi, chứ không thể tìm ở bên Trung Quốc được.

Gần đây, nhiều nhà văn hóa; nhà nghiên cứu Việt sử và các người chuyên khảo về các Dòng Họ của người Việt Nam rất đau lòng thấy có nhiều bài hay sách viết về các chi phái họ Tộc ở Bình Trị Thiên, Nam Ngãi, đã dựa vào phả chữ Hán Nôm của ông cha để lại, đem dịch ra Quốc Ngữ. Đã thiếu thận trọng, Cho rằng Họ Tộc mình gồm ở Quận này, Quận nọ, rồi suy diễn viết rằng: “Tộc Võ chúng tôi gốc xưa ở Thái Nguyên Quận”, nay là tỉnh Thái Nguyên ở Bắc Việt Nam. Thật ra, Thái Nguyên Quận nay là Thủ Phủ của tỉnh Sơn Tây ở hướng Tây Bắc Trung Quốc, là quê hương của Cha con Bà Võ Tắc Thiên Hoàng Đế nữ duy nhất nước Trung Hoa (624 – 705), chẳng dây mơ, dễ má gì với họ Vũ Võ nước ta, mà chỉ là nơi xuất phát ra một chi phái họ Vũ hiển đạt, thời Nhà Tùy gọi là “Vọng Tộc” thôi. Chứ, theo Sử Trung Quốc, cho rằng họ Vũ (Võ) của người Tàu ở Thiểm Tây có từ 2000 năm trước Tây Lịch, xuất phát từ đời Nhà Hạ thời Thượng cổ Trung Hoa? Đây cũng là một gốc tích hoang đường và rất nghi vấn về họ Vũ (武) ở Trung Quốc, Không liên quan gì đến họ Vũ nước ta hết. Gần đây có một vài tu sĩ Phật Giáo ở Huế và Quận Phú Nhuận TP.HCM, cùng một số ông, “tay ngang soạn phả” ở Quảng Nam và Thừa Thiên đã cao giọng giải thích: Các Quận được các cụ xưa ghi chép là nguồn gốc các Họ Tộc trong Gia phổ. Đó là nơi quay về của chốn Quận ở Cõi Âm (Sio) cho các vong hồn nương tựa vào! Sách “Bách Gia Tính” của Trung Quốc soạn từ đời Tống (thể kỷ 11) cho biết các Quận đó có thật trên bản đồ và thực địa Trung Quốc thời Hán – Đường.

Mãi cho đến thời Pháp thuộc, nhà nghiên cứu địa dư Pháp, đến Đông Dương khảo sát. Ông Pièrre Gourou, khoảng những năm 1930 – 1933 đã viết cuốn : Les Paysans du Delta Tonkinois (những nông dân Châu Thổ Bắc Kỳ), trong đó đã thống kê, cho rằng ở đồng bằng sông Hồng, tức Bắc Bộ nay, đã có 202 dòng Họ. Ô Dã Lan Nguyên Đức Dụ trong cuốn Gia Phả Khảo Luận và Thực Hành đã ước tính có gần 300 Họ (cả nước).

Tiến sĩ Lê Trung Hoa trong sách “Họ và Tên Người Việt Nam” đã tăng con số họ của “64 anh em dân tộc ở Việt Nam” lên đến hơn 950 Họ. Học giả Nhất Thanh Vũ Văn – Khiếu (1970) trong sách “Đất Lề Quê Thói” đã rút xuống con số 136 Họ thôi. Rồi gần đây có nhiều người phỏng đoán, mỗi người một cách không thống nhất nhau! Và phần lớn không có cơ sở khoa học thống kê đáng tin cậy.

Gần đây, ngày 17/3/2011, Cục Thống Kê TP.HCM đã dựa trên số liệu thống kê có thật và chính xác, đã phân tích trong 7.162.864 nhân khẩu có hộ khẩu đăng ký chính thức ở TP.HCM (không tính cư dân tạm trú, vãng lai và người nước ngoài sống lâu dài ở đây, cũng như Việt Kiều… có thể đếm đông tới trên dưới 1 triệu người). Bước đầu, tạm đến được 355 Họ viết theo chữ quốc ngữ, có từ 101 nhân khẩu (họ Vụ) lên đến Họ đông đảo nhất (họ Nguyễn) có 2.256.960 người. Nhưng thực tế, chưa thống kê các Họ lạ và hiếm, có nhân khẩu từ 100 người trở xuống ít nhất còn từ 10 đến 15 Họ nữa, chưa thống kê, còn bỏ sót lại. Hy vọng, Cục Thống Kê Thành phố cung cấp tiếp và rà soát lại, tại sao thiếu Họ Đỗ là một dòng Họ lớn, khá phổ thông ở bảng thống kê này?

Tư liệu này do Ông Nguyễn Thanh Bền P.GĐ Trung Tâm UNESCO nghiên cứu văn hóa các dòng Họ Việt Nam đề nghị Cục Thống Kê Thành phố giúp đỡ, nên đã cung cấp cho một Bảng danh sách các Họ theo số lượng nhiều, ít thứ tự. Sau đó Ông Bền đã giao cho tôi (Vũ Hiệp) xem và phân tích, nhận xét theo chuyên môn của người làm Nghiên cứu. Nay, thay mặt Ban nghiên cứu văn hóa các dòng Họ thuộc Trung Tâm UNESCO Việt Nam/ phía Nam, được công bố và sơ bộ đánh giá bảng Thống Kê 355 Họ Tộc ở Thành phố (lần đầu tiên và chính thức của Chính quyền chuyên trách ở TP) đính kèm sau đây:

BẢNG THỐNG KÊ (Sơ bộ) 355 Họ tộc ở TP.HCM (Họ Nguyễn đông nhất:

31.509% # 31.5% = 2.256.960 người, dẫn đầu. Và 25 Họ lớn, đông, phổ thông tiếp theo, đã chiếm từ 11% xuống 0,68%, ước lượng khoảng 72% tổng dân số TP gồm 26 Họ. Còn 329 Họ nhỏ và ít người hơn rất nhiều, chỉ chiếm có trong 28 dân cư TP. Thậm chí có tới 250 Họ chỉ có nhân khẩu mỗi họ từ 0,017% xuống đến 0,001%. Nghĩa là có từ 1.245 Người (Họ Cổ) xuống (họ Vũ) 101 người (thứ 355). Sự chênh lệch lớn – nhỏ cách xa hàng ngàn lần.

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *