NGHIÊN CỨU CÁC DÒNG HỌ CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ PHƯƠNG HƯỚNG GIẢI QUYẾT CÁC VẤN ĐỀ ĐẶT RA

Dòng họ là một hiện tượng lịch sử – xã hội đặc biệt mang tính phổ quát của nhân loại. Ý thức về dòng họ là dấu hiệu quan trọng đánh dấu bước phát triển của xã hội loài người từ mông muội đến văn minh.

1. VÀI NÉT LỊCH SỬ

1.1. Dòng Họ

Dòng họ là một hiện tượng lịch sử – xã hội đặc biệt mang tính phổ quát của nhân loại. Ý thức về dòng họ là dấu hiệu quan trọng đánh dấu bước phát triển của xã hội loài người từ mông muội đến văn minh.

Dòng họ có từ trước khi xã hội phân chia thành giai cấp và sau này khi giai cấp và Nhà nước đã tiêu vong thì dòng họ với tư cách là sự liên tục giữa ông cha và con cháu
vẫn tồn tại.

1.1.1. Dòng họ ở nước ngoài.

Nói về dòng họ, người Trung Hoa từ thời cổ đại đã có hai từ khác nhau là Tính và Thị tính là ký hiệu nói rõ gia tộc đã sản sinh ra một con người nào đó. Bộ từ điển chữ Hán cổ nhất tương đối hoàn chỉnh là Thuyết văn giải tự hoàn thành vào năm 1000 sau CN giải thích về chữ Tính như sau: “Nhân sinh dĩ vi tính, tòng nữ sinh”.

Mọi người đều biết, thời cổ đại xa xưa, loài người đã trải qua chế độ thị tộc mẫu hệ, trong đó chế độ hôn nhân là ngoại tộc quân hôn. Cả một tốp những người nam cùng lứa của thị tộc A được đưa đến thị tộc B làm chồng của cả một tốp người nữ cùng lứa. Con đẻ ra tất nhiên không biết bố, mà chỉ sống với mẹ. Đó chính là nguyên nhân dẫn tới việc tạo chữ Tính bằng cách ghép chữ Nữ với chữ Sinh.

Rất nhiều họ thời cổ đại ghi lại trong Thuyết văn giải tự đều viết với bộ Nữ như họ Khương được chú thích là họ của Thần Nông đẻ ra ở Khương Thủy, họ Cơ  được chú thích là họ của Hoàng Đế đẻ ra ở Cơ Thủy, họ Diệu được chú thích là họ Ngu Thuấn, đẻ ra ở Diêu Khư… và nhiều họ khác như họ Cất, họ Vân, họ Hào, họ Doanh v.v.… Đó là những minh chứng cho thấy Tính (họ) khởi nguồn từ xã hội mẫu hệ.

Nói rằng “họ” là sản phẩm của xã hội mẫu hệ không có nghĩa là tất cả các “họ” đều có từ xã hội thị tộc mẫu hệ. Trái lại, xã hội phát triển, thì “họ” cũng phát triển. Sau khi xã hội phụ hệ thay thế cho xã hội mẫu hệ, con cháu sinh sôi ngày một đông, một thị tộc chia thành nhiều chi, thì thường thường các con có thể phân hóa thành nhiều họ.

Nếu như Tính bắt nguồn từ xã hội mẫu hệ thì Thị lại là sản phẩm của xã hội phụ hệ. Nhân loại từ bầy người nguyên thủy sang xã hội mẫu hệ đã là một bước phát triển lớn khiến chất lượng nhân khẩu được nâng cao đáng kể. Từ xã hội mẫu hệ phát triển sang xã hội phụ hệ, chế độ hôn nhân càng chặt chẽ hơn, con cháu ngày một sinh sôi nhiều hơn, sau khi những thế hệ con cháu độc lập thành những chi phái riêng, mỗi chi phái có ký hiệu riêng của mình, đó là Thị. Sau khi ra đời xã hội có giai cấp, thì thị chẳng những là ký hiệu phân nhánh của Tính, mà còn là tiêu chí khu biệt địa vị thân phận của người đàn ông.

Sách Bạch Hổ Thông cho biết: Đặt ra Thị để làm gì? Là để “quý công đức, tiện kỹ lực” hoặc là lấy chức quan làm “họ”, hoặc lấy nghề nghiệp làm “họ”… con của bậc vương giả thì gọi là Vương tử, cháu của bậc giả là Vương tôn, con của chư hầu thì gọi là Công tử, con của Công tử là Công tôn. Các con của Công tôn thì lấy tên tự của bố làm Thị.

Phát triển đến đời Thương đời Chu, khanh đại phu có ấp phong thì lấy tên ấp phong làm họ, con cháu thì hoặc lấy đất ở làm họ, hoặc lấy thụy hiệu của bố làm họ. Thế là dần dần hình thành một sơ đồ đẳng cấp trong quan hệ “Tính Thị”: trong nội bộ giai cấp quý tộc phân biệt cao thấp; người bình dân thì chỉ có Tính mà không có Thị, còn nô lệ thì chỉ có tên mà thôi. Bởi thế quý tộc tiên Tần, đàn ông gọi Thị, đàn bà gọi là Tính. Sách vở gọi đó là “Tính biệt hôn nhân, Thị biệt quý tiện” nghĩa là Tính thì phân biệt huyết thống hôn nhân, Thị phân biệt sang hèn.

Rất nhiều Thị bắt nguồn từ quan chức hoặc nghề nghiệp như Chúc Thị bắt nguồn từ chức chúc là thầy cúng.

Sử Thị bắt nguồn từ chức sử là quan chép sử.

Cung Thị bắt nguồn từ nghề chế cung nỏ…

Lấy địa danh đất phong hoặc nơi cư trú làm họ (thị), thì “họ” đều viết chữ có bộ ấp (tức là thành ấp) như các họ Uất, Dung, Đặng, Văn, Tuấn, Chí, Trịnh, Chu, Viêm, Ngạc, Trâu hoặc bộ phụ như: Trần, Đào,   Nguyễn,   Hiệp,   Lục,   Thấp, Hình, Ngỗi, Lăng, Âm v.v…

Người xưa thường làm nhà trên bờ sông tựa lưng vào vách núi, nhiều họ viết bằng bộ Thủy: Tất, Tảo, Kì, Phủ, Hoài, Cam, Trạm, Phan, Bộc, Tế, Trí, Cấp, Tự.

Ngày nay, các họ ở Trung Quốc có họ là Tính có họ là Thị của thời cổ. Nay không còn phân biệt Tính và Thị nữa. Việc xóa bỏ sự phân biệt tính thị xảy ra sau thời Tần.

Người Trung Quốc rất coi trọng “họ”, một phần quan trọng là do ảnh hưởng tư tưởng “kính tông pháp tổ” của Nho gia. Đổi họ có nghĩa là thay đổi tổ tông, đó là điều sỉ nhục lớn nhất. Cho nên viết sai họ của đối phương là một sự xúc phạm.

Ý thức về dòng họ gắn liền với ý thức về tổ tông. Theo sự nghiên cứu của các học giả về văn tự giáp cốt thì chữ tổ thoạt đầu không có bộ thị, viết tựa như chữ thà sau này.

Trong giáp cốt văn có các hình chữ, còn trong kim văn sơ kỳ thì có và, và đó là chữ tượng hình, tượng cái hình của bộ phận sinh dục nam tính, tượng trưng cho khái niệm “tổ tiên”, gắn liền ý thức sùng bái vai trò trọng yếu của người bố trong việc diện mục huyết thống của gia tộc, của dòng họ.

Ở Trung Quốc có “họ” đơn (một âm tiết), lại có “họ” kép (hai âm tiết) như Âu Dương Tư Mã, Tây Môn,   Đông   Quách,   Đông   Môn, Công Tôn, Công Dương, Bách Lý, Thuần Vu, Thiền Vu…

Bảng “Bách   gia   tính”   của Trung Quốc hiện nay cho một tổng số 926 họ.

Về các dòng họ ở Hàn Quốc, nhiều học giả căn cứ vào sự ghi chép trong Tam Quốc sử ký và Tam Quốc di sự, chủ trong rằng 6 họ Lý, Kim. Thôi, Tôn, Trịnh, Bùi, Tiết, do đời vua thứ ba của Sin-la là Nho

Lý Vương ban cho sáu bộ môn (năm 32 sau CN) là thủy tổ của các họ ở Hàn Quốc.

Học giả Hàn Quốc Lý Tương Phi căn cứ vào Nhật Bản thư ký dẫn trong Hàn Quốc sử đại hệ niên biểu nêu ra 5 tên người Pai xi (Bách Tế) là Tân – Tề – Đô – Viên, Nộ – lợi -tư – trí – khể, Thi – đức – tam – cân, Quý – đức – dĩ – ma – thứ và Quý đức – tiến mõ di sử Nhật Bản đều là tên bốn âm tiết hoặc 5 âm tiết so với những tên người đó trong sử thư Trung Quốc ghi tắt theo tập quán Trung Quốc.

Nhưng ông Tô Tinh Hựu, chủ tịch Hội Tộc phả họ Hàn Quốc thì cho rằng lịch sử các dòng họ ở Hàn Quốc phải đẩy lên sớm hơn rất nhiều vào thời thượng cổ.

(Theo ông, từ thời Thượng cổ, dân tộc này đã có các họ Hàn, Giải, Ất Chi (), Ất, Cao, Dư… được ghi chép trong các sách xưa. Họ của Cao Cũ Lệ có: Cao, Ất, Lễ, Tùng, Vu, Chân, Ưu, Nhuân, Dư Minh Lãm. Ất Chi, Phù Dư… tất cả hơn 20 họ. Hiện nay ở Hàn Quốc có cả thảy 274 họ, chia ra làm 3435 chi phái.

Nước Anh có khoảng 16.000 họ.

Nhật   Bản   nhiều   họ   nhất, 100.000 họ, nhiều nhất thế giới (một tỉ dân Trung Quốc chỉ có không đến 1.000 họ).

1.1.2. Dòng họ ở Việt Nam

Hiện nay chưa có số liệu thống kê chính xác các dòng họ ở Việt Nam.

P. Gourou (1930) nói ở đồng bằng Bắc bộ có 202 dòng họ. Dã Lan Nguyễn Đức Dụ trong cuốn gia phả – khảo luận và thực hành của ông (*) ước tính “chỉ vào khoảng gần 300 họ”. Mới đây, kỹ sư Vũ Mạnh Hà cung cấp con số 191 họ (?), chắc chắn là còn thiếu nhiều.

Thật ra cũng còn xa mới có thể có được con số chuẩn xác. Trước mắt có thể hy vọng một số liệu về tổng số các họ đang dùng có tính đồng đại tại một thời điểm nhất định, ví dụ như ở một cuộc điều tra dân số sắp tới chẳng hạn.

Nhưng xét theo quan điểm lịch đại, thì những con số ấy đều chỉ có giá trị hết sức hạn chế. Bởi vì những người mang cùng một họ như họ Nguyễn chẳng hạn – chưa hẳn là đồng tông và ngược lại, những người mang họ khác nhau hiện nay lại rất có thể vốn là chung nhau một ông tổ. Kết quả “tìm nguồn” gần đây cho biết họ Mạc đã có người đổi sang các họ như : Bế, Bùi, Bùi Đăng, Bùi Đình, Bùi Thái, Bùi Trần, Cát, Chử, Đặng, Đoàn, Đỗ, Hoàng.

1.2. Gia phả và tộc phả

Hình thái sớm nhất của tộc phả khởi đầu từ đến vương niên biểu hình thành trên cơ sở lấy hệ thống đế vương làm trung tâm. Về sau mới bắt đầu có tộc phả cá nhân.

1.2.1. Tộc phả ở Trung Quốc và một số nước phương Đông

Tộc phả ở Trung Quốc ít nhất đã khởi nguồn từ đời Chu, dần dần hưng thịnh ở đời Hán, đến Ngụy Tấn Nam Bắc Triều do nặng về ý thức về dòng dõi môn đệ nên Nhà nước chọn quan lại, gia đình kén dâu rể đều lấy tộc phả làm căn cứ tham khảo mà trở nên cực thịnh.

Xuống đến Tống Nguyên do chế độ khoa cử nghiêm ngặt, bỏ dần việc đề cử, nên quan niệm môn đệ dòng dõi mờ nhạt dần, tộc phả chủ yếu chỉ nhằm mục đích hoa mục yêu thương họ hàng. Thời Minh Thanh, có khuynh hướng từ tộc phả hướng sang gia sử, với yêu cầu vô trưng bất tin (không có chứng cứ thì không tin), phân hiều soạn tộc phả theo bút pháp nâng giáo dục xã hội đề cao nhân tài, biểu dương thuần phong mỹ tục.

Nói chung từ Tống Nguyên về sau, nội dung ký sự của tộc phả đã gia tăng rất nhiều, bao gồm từ cội nguồn và các dòng phái “Tính thị” thế hệ tổ tiên, địa phương cư trú, từ đường sản, nghĩa điền nghĩa trang, tiên nhân truyện ký, thơ phú văn chương, gia huấn gia quy cùng mọi việc khác trong gia tộc đều ghi chép cả, vì thế trở thành một kho tàng quý
hóa của người xưa.

Tộc phả Hàn Quốc khởi nguồn từ thời đại Tam Quốc (Cao Cú Lệ, Pei xi và Si-la) mà bán đảo này, và cũng bắt đầu bằng việc ghi chép hệ thống vương thất: Vương đại thực lục của Kim Khoan Nghị và Duệ nguyên lục của Nhậm Cảnh Túc thời trung diệp Cao Lê, ghi chép tỉ mỉ các tôn tử và tôn nữ trong vương thất dưới dạng tộc phả.

1.3. Gia phả học (phả hệ học)

1.3.1. Gia phả học Châu Âu

  1. Lịch sử tổng quát các vương quốc Jêru, salem, Chuypre, Armênie (1575 -1579) khảo về nguồn gốc các vua chúa thân vương và các nhà đại quý tộc và Gia phả của 67 nhà quý phái đại gia Pháp và ngoại quốc. (1586) của Delusignan, một nhà tu hành người Pháp ở vương quốc Chyre, phát triển ở thế kỷ XVIII cực thịnh ở thế kỷ XX. Các tác phẩm nổi tiếng trong ngành học này có thể kể: Nguồn gốc lịch sử dòng họ quý phái 20 tập của Gustave Chaix D Est,
    Ange xuất bản trong khoảng 1903 – 1929 khảo cứu hàng trăm dòng họ hiện hữu, gia đình và phả hệ của nam tước A.De Maricourt năm 1943, và Phương pháp phê bình gia phả học của Tử tước De Marsay năm 1945.

Lịch sử còn ghi nhận các Hội nghị Gia phả học quốc tế lần thứ nhất năm 1929 ở Barcelone, lần thứ hai năm 1953 ở Nap les, lần thứ ba ở Madrid năm 1955 (lần nay 408 học giả thuộc 76 tổ chức đến từ 31 nước).

1.3.2. Tộc phả học phương Đông

Tộc phả học Trung Quốc chính thức ra đời ở thời Nam Bắc triều với trước tác đồ sộ trong đó có Thị tộc yếu trạng và Nhân danh thư của Giá Uyên tự là Hì Kinh người Tề Nam triều.

Tộc phả Hàn Quốc khá hoàn bị về thể chế và phương pháp ghi chép đồng thời lại có mức độ phổ cập quốc gia rất cao, trên phạm vi thế giới Hàn Quốc được coi là nước phát triển về tộc phả. Đó cũng là một trong những lý do dẫn đến Hội nghị Tộc phả học thế giới mùa hè năm 1991 tại Seoul có học giả trên 180 nước và khu vực tham gia.

Xét về khoa nghiên cứu tộc phả và lịch sử gia tộc (Familihistory) thì Trung Quốc có lịch sử lâu đời nhất, có hệ thống nhất, phải nói là đứng hàng đầu thế giới.

1.3.3. Phá hệ của phương Đông luôn luôn lấy vị tổ tiên chung của cả họ (tộc) làm cội nguồn để viết từ trên xuống dưới, viết cho đến thời điểm hiện tại. Còn cách làm gia phả của phương Tây thì lấy bản thân làm trung tâm mà truy ngược dần lên đến tổ tiên, theo phương thức tìm nguồn.

Hiện nay, trong các trường đại học của Mỹ, nhiều trường đã đặt môn gia tộc sử hoặc lịch sử gia đình thành môn học riêng: trường Đại học Rut-giơ (Rutgers University), trường Đại học Los Angeles bang California (UCLA), trường đại học Ai-ơ-vain (Irvine) bang California trường Đại học Brai – ham Yang (Brig – ham Young University)…

Cơ quan lưu trữ gia phả lớn nhất hiện nay có lẽ là thư viện gia phả của nhà thờ Jesus Christ Đức thánh. Ngày tận thế ở thành phố Salt lake bang Yo ta với hơn năm trăm thư viện chuyên nghiệp và hơn bốn trăm người tòng nghiệp tự nguyện không hưởng lương, bình quân hàng tháng trả lời trên năm nghìn lượt thư độc giả giải đáp các vấn đề liên quan đến gia phả, kho sách của thư viện này   có   trên   một   triệu   cuốn Microfilm, và mỗi tháng bổ sung thêm khoảng 4.000 cuốn.

Tại Seoul Hàn Quốc, năm 1993 chúng tôi đã có dịp đến thăm cơ sở của một trung tâm tộc phả học mang tên “Hồi tưởng xã” tại đó chúng tôi đã phát hiện bộ gia phả hai quyển dày của Lý Long Tường ở Hoa Sơn. Hồi tưởng xã đã có lịch sử trên bốn mươi năm, hiện lưu giữ khoảng 2250 cuốn gia phả, tộc phả.

Việc nghiên cứu gia tộc sử ở Mỹ ngày nay dần dần gắn với gia phả học và dựa vào thành quả của gia phả học. Một số trường đại học Mỹ xếp gia tộc sử vào trong phạm vi xã hội sử. Vì thế nghiên cứu tộc phả và gia đình sử ở Mỹ đi theo hướng khoa học xã hội.

Nghiên cứu tộc phả và gia truyện (lịch sử gia tộc ở Trung Quốc và ở Á Đông nói chung, ngoài ý nghĩa sử học ra, còn đặc biệt chú trọng khía cạnh đạo đức luân lý).

2. NHỮNG VẤN ĐỀ DẠNG ĐẶT   RA   HÔM   NAY   VÀ PHƯƠNG HƯỚNG GIẢI QUYẾT

2.1. Hiện nay, một xu hướng tìm về cội nguồn đang phát triển ngày càng mạnh mẽ và đi vào chiều sâu. Khuynh hướng chung là lành mạnh, phù hợp với đường lối đổi mới, hòa hợp dân tộc, hội nhập và giao lưu quốc tế của Đảng và Nhà nước ta, chung chiều hướng với chương trình Thập kỷ văn hóa thế giới (1987 – 1997) của UNESCO.

Với tính huyết thống như một sợi dây tinh thần xuyên suốt, mỗi dòng họ thường có một địa bàn cư trú ban đầu, dần dần thành địa bàn cư trú lâu dài, có xu hướng cố định hóa, rồi định những thời điểm nhất định gắn với một biến thiên lịch sử nào đó của đất nước, của dân tộc, có sự thiên di bộ phận hay toàn thể đến một hoặc nhiều địa bàn mới để sinh cơ lập nghiệp, các dòng họ dần dần phát triển các chi phái, vô hình trung thực hiện việc lưu truyền lan tỏa văn hóa, tiếp xúc và hòa quyện văn hóa giữa các vùng, miền của đất nước.

Hai lĩnh vực hoạt động trọng yếu nhất mang tính phổ quát đối với mọi dòng họ và nổi trội lên ở những dòng họ lớn mạnh là hoạt động kinh tế dẫn tới sự ra đời các nghề truyền thống và hoạt động giáo dục theo nghĩa rộng của từ này làm nảy nở các nhân tài ưu tú, các danh nhân kiệt xuất.

Nhưng bên cạnh mặt tích cực là chủ yếu đó, đời sống các dòng họ cũng đã vô tình làm nảy sinh những khía cạnh tiêu cực: tình thương yêu họ hàng đùm bọc “giọt máu đào hơn ao nước lã” vượt ngưỡng sẽ gây ra tệ vay cánh và bệnh hẹp hòi phân biệt bè phái, kiểu “chi bộ họ ta”; quan hệ trên kính dưới nhường, trên bảo dưới nghe, “chết cha còn chú, sẩy mẹ bú dì” vượt quá giới hạn sẽ dẫn đến tệ gia trưởng độc đoán, “cả vú lấp mệng em” trở ngại cho sự phát huy dân chủ sáng tạo…

Do những điều kiện lịch sử và địa lý, có những vấn đề của dòng họ có khi vượt biên giới lãnh thổ quốc gia: một số không ít dòng họ Việt Nam bắt nguồn từ hoặc có quan hệ với các địa phương khác nhau của Trung Quốc, Lào, Campuchia, Thái Lan… từ đó có thể trở thành những vấn đề ngoại giao nhạy cảm, thậm chí có thể bị lợi dụng vào những mục đích không trong sáng lành mạnh…

2.2. Vấn đề đặt ra là: Làm sao phát huy được mặt tích cực của dòng họ trong việc xây dựng xã hội Việt Nam hiện tại và tương lai? Vai trò của các dòng họ trong việc thực hiện chiến lược con người của đất nước Việt Nam đang đi vào công nghiệp hóa hiện đại hóa? Giữ gìn, tôn vinh, và khai thác phát huy như thế nào những tinh hoa tốt đẹp của đời sống dòng họ và loại trừ những tiêu cực, hạn chế?

2.3. Như trên đã nói, hiện nay ở khắp nơi có rất nhiều hoạt động của các dòng họ. Trên bình diện tổ chức, theo chúng tôi Đảng và Nhà nước nên ủng họ và tạo điều kiện cho một hội quần chúng nhằm tập hợp và hướng dẫn các hoạt động dòng họ trong nước theo tinh thần khoa học tiến bộ và có thể đứng ra lãnh nhận trách nhiệm hợp tác quốc tế với các tổ chức tương ứng của nước ngoài.

Có nhiều ngành khoa học có thể góp phần tích cực: Sử học, Hán Nôm học. Gia phả học, Truyền thống học, Văn hóa học… sẽ giúp nâng cao tính học thuật, tính khoa học liên ngành của hoạt động dòng họ.

Viện nghiên cứu Hán Nôm chúng tôi với chức năng sưu tầm, bảo quản và khai thác các văn bản Hán Nôm, phần quan trọng của di sản văn hóa thành văn của dân tộc, với đội ngũ hàng chục chuyên gia Hán Nôm học, với một kho thư tịch hàng mấy trăm bản gia phả và hàng ngàn thư tịch tài liệu có liên quan, sẽ cố gắng góp phần tích cực nhất của mình.

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *