MỘT CÁCH NHÌN KHÁC VỀ CÔNG GIÁO

Ba trăm năm mươi năm Công Giáo đến với dân tộc Việt Nam và những thành quả văn hóa xây dựng được là một kỳ công của Giáo hội. Triết lý Thiên Chúa Giáo đã thổi vào lòng một số đông người dân Đông Á mang đậm nét văn hóa phương Đông thật không đơn giản.

 

 

Giáo dân tại Việt Nam đã lên đến con số trên chục triệu ,tuy nhiên con số này đã đóng khung trong phạm vi phát triển của con cái giáo dân hiện hữu. Lý do vì đâu, có lẽ Giáo hội đã đặt thành câu hỏi nhưng trả lời chưa thật sự đầy đủ.

Lẽ thiện và cứu cánh luôn là giấc mơ của nhân thế. Không có lẽ thiện và cứu cánh con người sẽ rũ nhau chết đuối trong đam mê và tội lỗi, họ sẽ không có lối quay về tìm lại sự bình yên trong nghĩ suy và cuộc sống. Công giáo là một trong những chiếc phao cứu vớt nhiều con người thoát khỏi vòng vây khốn đốn mà tác nhân là cuộc sống luôn rình rập. Đối với giáo dân, Công giáo đang hoàn thiện con người ở thực tại và chuẩn bị cho một cuộc sống đời đời với cái thực còn lại sau cùng là linh hồn bên cỏi Chúa. Niềm tin ấy với con chiên là duy nhất không mãnh lực nào tháo gỡ khỏi sự sống hằng có.

Trước trào lưu trở về với văn hóa truyền thống dân tộc người Á Đông, người Việt Nam hình như đang quay lưng với sự phát triển của Công giáo. Trong thời kỳ tự do đúng nghĩa, thế lực thống trị không còn lung lạc được khả năng biết của con người, họ bắt đầu cho một lựa chọn. Ưu thế đầu tiên trong chọn lựa là bản chất dân tộc xưa và nay. Có ba yếu tố cơ bản nhà tâm lý phải nhắm đến để chinh phục được họ: Văn hóa gia đình – Văn hóa dòng họ và Văn hóa dân tộc.

Đối với gia đình giáo dân nền nếp và đức tin trong họ đủ để kính chúa yêu đời trọn vẹn. Những gia đình khác đang nghĩ gì về Công giáo! Các vị linh mục từng đi sâu vào tâm lý xã hội nhưng chưa làm cho đại bộ phận xã hội thỏa mãn. Bối cảnh gia đình Công giáo có sự khác biệt về văn hóa dân tộc trong nền nếp gia đình Việt Nam. Nếu phủ nhận điều này là do tin nơi mắt mình nên chưa khách quan.

Truyền thống văn hóa dòng họ sâu sắc của người Việt Nam là tổ tiên, mồ mã ông cha, nơi chôn nhau cắt rốn luôn gắn liền với họ. Bằng chứng cụ thể cho thấy, trong những năm chiến tranh họ lo lắng ngôi mộ ông bà không người thăm viếng, họ bằng lòng sống với bom đạn để gìn giữ từng nấm mồ và bát nhang của từ đường. Ý thức bảo vệ giá trị di sản gia tộc, dòng họ đã thành nghĩa vụ, ai thiếu trách nhiệm tự mình cảm nhận là đang bội bạc, không xứng đáng làm thành viên trong họ hàng. Bản chất dân tộc, tính thiêng liêng trong họ đã làm nên nét văn hóa chỉ có người châu Á và Việt Nam mới có. Người Việt Nam không thể không tới lui với ngôi mộ người thân, không thể không có bàn thờ cha mẹ khi cha mẹ qua đời. Văn hóa Việt Nam khác hẳn văn hóa Tây Âu, họ không thể quay lưng khi quan tài người thân chưa hình thành xong nấm mồ, họ luôn nghĩ đến vị tổ đầu phái và cùng nhau tu sửa cho mộ tổ huy hoàng, đẹp hơn cả lòng mong ước. Người Tây Âu chỉ biết trực hệ ba đời, xa hơn họ đã thành người dưng, không còn phân chia thế thứ trong họ, cội nguồn thân tộc không gắn bó như người Việt. Về lãnh vực khoa học người Tây Âu là người tiên tiến trong giai đoạn hiện tại, nhưng về văn hóa dòng họ người Việt Nam sâu sắc và đang vượt xa nhận biết của nhân loại. Từ vị trí của người có khoa học tiên tiến họ luôn đánh giá dân tộc ta lạc hậu, chúng ta cũng không buồn trước nhận xét đó, tất nhiên ta đang đi sau họ hàng thế kỷ nhưng tố chất của ta không phải tối tăm.

Văn hóa dân tộc Việt nam mang hình thái nhớ cội nguồn, nhớ ơn cứu giúp, che chở thông qua các lễ hội nhiều tầm cở. Lễ hội là cơ hội để ôn lại truyền thống và giúp họ thấm thiết hơn với hai tiếng đồng bào, thân tộc. Tôn giáo đến với truyền thống lễ hội thường là tư cách đại biểu khách mời, còn lại đa số vẫn thờ ơ, chính điều nầy tạo nên khoảng cách trong xã hội. Người Việt tri thức đến ngày nay họ đang đào sâu văn hóa Hòa Bình để tự hào dân tộc, do vậy người Việt giữ gìn bản sắc dân tộc là điều phải quý trọng và sự quý trọng chính là chiến lược của người muốn thâm nhập cùng họ.

Dù muốn hay không Công giáo đã ảnh hưởng lớn đối với Giáo dân, nhiều năm trước thập kỷ 70 người công giáo xa lìa bản sắc dân tộc, họ đã cảm nhận rằng dân tộc ta lạc hậu và sự thay thế hình thái văn minh Tây phương trong tôn giáo là điều cần có. Hình ảnh Hoàng Tử Cảnh, khi được Đức Giám Mục Bá Đa Lộc truyền thụ Công giáo, ông đã không chịu vào lạy Thái Miếu lúc về nước để cuối cùng phải nhận sự hệ lụy là mất đi cương vị Thái Tử từ quyết định của vua Gia Long, nhiều người Công giáo đã có một thời không hay biết gia phả là gì, họ không quan tâm đến nhà thờ tộc đã từng là nơi kết nối thân thích dòng họ, đó là những đơn cử xưa và nay. Công chúng không thể nhận thấy rằng trên bàn thờ Chúa cũng chính là nơi qui tụ ông bà tổ tiên, sự thiếu mất truyền thống đã làm nhiều người ngoại đạo có sự đánh giá khác. Đúng là đã có ảnh hưởng lớn làm cho công chúng mang tinh thần bảo thủ tách biệt và cả hai phía đã có cái nhìn phiến diện.

Mặc dầu năm 1973 tòa thánh Vatican đã phê chuẩn nghi thức thờ ông bà của người Việt Nam nhưng cách biệt vẫn còn nhiều giới hạn, có thể nói chưa hoàn toàn hòa nhập. Ngày mùng 3 tháng chạp năm Canh Dần tại nhà thờ họ Vũ –Võ nhân ngày giỗ Thủy Tổ họ Vũ – Võ, Linh mục Vũ Văn Ánh chánh xứ Tân Định, thành phố Hồ Chí Minh đã đưa một đoàn giáo dân họ Vũ – Võ về dự giỗ. Sự tìm về với nguồn cội như tìm lại văn hóa Việt, linh mục Ánh đã công bố trước hội đồng Vũ – Võ, các Tộc biểu và cháu con họ Vũ – Võ rằng: “Người Công giáo Việt Nam có dòng họ, có ông bà. Người Việt Nam ngàn đời đã thờ lạy tổ tiên, người Công giáo Việt Nam cũng phải biết đạo nghĩa ấy, đó là một cách thể hiện lòng hiếu thảo, tôn kính ông bà, cha mẹ. Công giáo không còn là của người phương Tây mà giáo lý ấy là của nhân loại, người Việt Nam đón nhận lời dạy của Chúa để làm người có nhân nghĩa, vì Chúa không dạy điều ngược lại luân lý, lẽ phải nhiều đời thừa nhận”. Sau lời tuyên bố đó, linh mục và đoàn con chiên họ Vũ – Võ vào chánh điện dâng hương cùng với hàng ngàn cháu con họ Vũ –Võ.

Một ngày cuối đông thật yên lành, một ngày hội ngộ rất Việt Nam, mọi người ngồi bên nhau bằng cốt nhục hàng nghìn năm trong dòng máu, không chia nhau chính kiến, không phân biệt giáo phái, không xếp loại giàu nghèo. Những nhà khoa học, những trí thức đương thời sống, làm việc trong cơ cấu hội nhập và hiện đại nhưng tính cách và suy nghĩ về văn hóa truyền thống Việt Nam trong họ cùng giống như mọi người.

Bản thể của dòng họ vốn là vậy! Hình ảnh tổ tiên đang cùng cháu con dựng lại bức tranh văn hóa Việt Nam và lan tỏa khắp nơi không riêng người họ Vũ – Võ. Linh mục Vũ Văn Ánh mở ra tầm nhìn mới cho mọi người cần có cách nhìn khác hơn về Công giáo. Tôn giáo là điểm tựa tâm linh của con người, ai cũng có quyền được chọn lựa nhưng phải nhìn nhận rằng tôn giáo chọn văn hóa dòng họ, văn hóa dân tộc để thâm nhập vào và không có sự ngược lại, có nghĩa truyền thống văn hóa dòng họ và dân tộc Việt Nam phải luôn thể hiện trong yếu tố tín ngưỡng.

Hy vọng tiếng chuông giáo đường sẽ mang theo âm vang mới trải khắp cùng, Công Giáo sẽ rao truyền từ tâm Thiên Chúa trên từng dòng họ. Mọi người đều nhận thấy văn hóa dân tộc, văn hóa dòng họ Công giáo không có sự tách biệt, hơn thế nữa, giáo dân là ngọn đèn sáng và đẹp giữa dòng họ mình.

TRẦN VĂN ĐƯỜNG
TT NC&THGP TPHCM – VP TT UNESCO NCVHDH VN

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *