Các dòng họ Việt Nam

113Người Trung Quốc có 926 họ, người Hàn Quốc có 274 họ, người Anh có khoảng 16.000 họ, người Nhật dẫn đầu thế giới 100.000 họ. Còn việc xác định có bao nhiêu dòng họ ở Việt Nam là một công việc khó khăn. Nhiều con số khác nhau đã được đưa ra 202, 300, 191. Ngay cả khi công tác điều tra dân số được tiến hành một cách thật khoa học, đồng bộ thì kết quả điều tra này cũng chỉ có giá trị ở mức độ nhất định

Có 2 thực tế mà ai cũng biết, những người mang cùng một họ, như họ Nguyễn chẳng hạn, chưa chắc đã là đồng tông. Ngược lại, có những người hiện nay mang họ khác nhau nhưng rất có thể họ lại vốn có chung một ông tổ. Thí dụ, người ta biết rằng cho đến đầu năm 1998, tại 25 tỉnh thành có họ Mạc cư trú lâu đời đã có những chi đổi sang các họ sau đây: Bế, Bùi, Bùi Đăng, Bùi Đình, Bùi Thái, Bùi Trần, Cát, Chử, Doãn, Đào, Đặng, Đoàn, Đỗ, Hoa, Hoàng, Hoàng Đăng, Hoàng Đình, Hoàng Đức, Hoàng Khắc, Hoàng Như, Hoàng Trung, Hồ Đăng, Huỳnh, Khổng, Lê, Lê Đăng, Lều, Lều Vũ, Nông, Nguyễn, Nguyễn Công, Nguyễn Phương, Nguyễn Trọng, Phạm, Phạm Bá, Phạm Hữu, Phạm Trọng, Phạm Văn, Phạm Viết, Phan, Phan Đăng, Phan Đình, Phan Hữu, Phan Sĩ, Phan Văn, Phan Xuân, Thạch, Thái, Thái Doãn, Thái Dung, Thái Khắc, Thái Văn, Trần, Vũ Như, Vũ Tiến, Vũ Trọng…Thay đổi họ là điều thường xảy ra ở VN, do sợ bị bức hại, do được ban quốc tính (họ vua), đo đi làm con nuôi….

Nhiều khi căn cứ vào gia phả người, người ta biết được những hiện tượng trên. Vậy gia phả là gì? Gia phả (hay gia phổ) là tài liệu ghi chép liên tục đời này tiếp đời khác tất cả tên tuổi, phần mộ, ngày giỗ của tổ tiên, con cháu của một nhà, một họ hay một dòng vua theo một hệ thống trên dưới, trưởng thứ, nội ngoại nhất định. Gia phả khác với sử (thí dụ Đại Việt sử ký toàn thư) ở chỗ gia phả được soạn để lưu truyền trong phạm vi một nhà, một họ, trong khi sử thi bao gồm hết thảy sự việc hoặc hành động của nhiều người ở nhiều họ khác nhau nhưng liên quan mật thiết tới quốc gia, gia phả cần được giữ kín trong khi sử được phổ biển công khai, ai xem cũng được. Đôi khi gia phả có ghi thêm sự việc thì những sự việc này liên quan đến dòng họ nhiều hơn là quốc gia. Trong gia phả ít khi có lẫn sử, nhưng ngược lại trong sử và trong hầu hết các truyện danh nhân, các ký sự lịch sử đều có điểm xuyết ít nhiều gia phả.

Theo sử gia Phan Huy Chú, năm 1026, vua Lý Thái Tổ đã hạ lệnh biên soạn Hoàng triều ngọc điệp (một thứ gia phả của Hoàng tộc). Đáng tiếc sách này đã mất. Hiện nay, trong số 264 gia phả đang được lưu giữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm, cuốn gia phả của họ Trần (xã Đồng Ngạc, huyện Từ Liêm- Hà Nội) là cuốn có niên đại sớm nhất, được soạn năm 1533. Cuốn này ghi lại thế hệ thứ mười, đời từ Trần Thụ đến Trần Văn Kính.

Trong 264 cuốn gia phả nói trên, có cuốn được ghi bằng chữ Hán, có cuốn được ghi bằng chữ Nôm. Về tên gọi, 117 cuốn mang tên phả ký, 53 cuốn gọi là thế phả, 24 cuốn mang tên phả ký, 16 cuốn tộc phả, 5 cuốn ngọc phả, 4 cuốn phả hệ…Chi có 3 trên tổng số 264 gia phả được khắc in, còn lại là sách chép tay. Về dộ dày, cuốn nhiều số trang nhất là Hương Khế Nguyễn Thị gia phả: 1.200 trang viết tay. Đây là gia phả họ Nguyễn ở Hương Khê, dòng họ này có nhiều người học giỏi. Cuốn có ít trang nhất là Giáo dục xã Đỗ tộc phả của họ Đỗ ở tống Đại An, huỵên Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định, chỉ có 6 trang. Gia phả gồm 100 trang trở lên có 123 cuốn. Phần lớn gia phả viết bằng văn xuôi, có cuốn viết bằng văn xuôi xen văn vần, cũng có một số ít viết theo thể thơ lục bát như: Nguyễn Đình tộc gia phả.

Có 162 gia phả ghi tên biên soạn, người viết lời tựa, trong số này có người giữ chức vụ cao trong Nhà nước quân chủ (Nguyễn Nghiễm), có người vừa làm quan vừa sáng tác văn thơ (Ngô Thì Sĩ, Phạm Đình Hổ). Về địa bàn phân bổ, Thăng Long- Hà Nội là nơi có nhiều gia phả nhất, sau đó đến các tỉnh Hà Tây, Hải Dương, Nghệ An…Chỉ thấy có 3 cuốn ở các tỉnh phía Nam: Thừa Thiên Huế, Gia Định (Thành phố Hồ Chí Minh) và Hà Tiên.

Số gia phả được lưu giữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm chưa phải là tất cả số gia phả của Việt Nam. Do chiến tranh, loạn lạc, một số dòng họ không còn giữ được. Do căn bệnh ấu trĩ là khuynh hướng, có lúc có người cho rằng gia phả là tàn tích phong kiến, là tài liệu phản động, lạc hậu, vì vậy không ít cuốn đã bị thiêu huỷ.

Từ những năm 80 của thế kỷ XX trở lại đây đã có sự khởi sắc của văn hoá dòng họ. Nhiều nơi, nhiều dòng họ sưu tầm, dịch, phiên âm gia phả, tộc phả. Qua gia phả đi tìm về quê hương bản quán, lập các ban liên lạc dòng họ, liên kết các chi họ, xây dựng mới hoặc sửa sang nhà thờ họ, đi tìm mồ mả, quy tập lại theo dòng họ, chi họ. Tổ chức Câu lạc bộ dòng họ thuộc UNESCO Việt Nam cho đến nay đã có 180 dòng họ trong cả nước tham gia. Nhiều cuộc hội thảo về dòng họ đã được tổ chức ở Hà Nội, Nghệ An, Thái Bình… Năm 2001, tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam (Hà Nội) đã tổ chức hội thảo và trưng bày gia phả.

TS. Nguyễn Xuân Kính.

Họ người Việt

Gồm các họ của người thuộc dân tộc Việt. Việt Nam nằm ở khu vực Đông Dương nên chịu nhiều ảnh hưởng văn hóa từ Trung Quốc lẫn các nước vùng Ấn Độ hay dân tộc Chàm, cho nên họ người Việt cũng vậy. Nhưng đa số họ được đọc trại đi cho khác với nguyên gốc để hợp với cách phát âm tiếng Việt. Tuy vậy họ người Việt không nhiều như Trung Quốc hay các nước lớn khác. Các họ lớn ở Việt Nam đa số có một triều đại trong lịch sử nước này.

Các họ phổ biến

 

Distribution_of_Vietnamese_family_names
Phân bố các họ Việt Nam phổ biến

Phần lớn các họ phổ biến ở Việt Nam gắn liền với các triều đại phong kiến Việt Nam. Họ phổ biến nhất của người Việt là họ Nguyễn, theo một thống kê năm 2005 thì họ này chiếm tới khoảng 38% dân số Việt Nam. Đây là họ của triều đại phong kiến Việt Nam cuối cùng, triều nhà Nguyễn. Các họ phổ biến khác như họ Trần, họ , họ  cũng là họ của các hoàng tộc từng cai trị Việt Nam, đó là nhà Trần, nhà Tiền Lê – Hậu Lê và nhà Lý.

Sau đây là danh sách 14 họ phổ biến của người Việt, 14 họ này chiếm khoảng 90% dân số Việt Nam

Họ

Tỷ lệ

Nguyễn 38,4%
Trần 11%
9,5%
Phạm 7,1%
Hoàng/Huỳnh 5,1%
Phan 4,5%
Vũ/Võ 3,9%
Đặng 2,1%
Bùi 2%
Đỗ 1,4%
Hồ 1,3%
Ngô 1,3%
Dương 1%
0,5%

Các họ khác

Khoảng 10% dân số Việt Nam còn lại có thể có các họ sau:

·         An

·         Ân

·         Ánh

·         Âu

·        

·         Bạch

·         Bàng

·         Bành

·         Biện

·         Cái

·         Cao

·         Cấn

·         Châu

·         Chu

·         Chung

·        

·        

·         Doãn

·         Đàm

·         Đan

·         Đào

·         Đinh

·         Đoàn

·        

·         Hình

·         Lạc

·         Lâm

·         Liễu

·         Lương

·         Lưu

·         Ma

·         Mạc

·         Mai

·         Nhâm

·         Nhậm/Nhiệm

·         Ông

·         Phí

·         Phó

·         Phùng

·         Tạ

·         Thái

·         Thân

·         Tôn

·         Triệu

·         Trịnh

·         Trương

·         Văn

·         Vương

2 Comments

  1. Đặng Thọ

    Cho em hỏi căn cứ vào đâu để đưa ra tỉ lệ % dân số của các dòng họ (Nguyễn, Trần,… Lý). Bởi theo em biết, nước ta chưa thực hiên thống kê như thế này.
    Trân trọng.

    1. Bui Manh Quynh

      Theo cuốn Họ và Tên người Việt Nam soạn bởi Tiến sĩ Lê Trung Hoa được Nhà xuất bản Khoa học Xã hội xuất bản (2005) , những họ phổ biến nhất Việt Nam là:

      1. Nguyễn (38,4%)
      2. Trần (11%)
      3. Lê (9,5%)
      4. Huỳnh (Hoàng) (5,1%)
      5. Phạm (5%)
      6. Phan (4,5%)
      7. Vũ (Võ) (3,9%)
      8. Đặng (2,1%)
      9. Bùi (2%)
      10. Đỗ (1,4%)
      11. Hồ (1,3%)
      12. Ngô (1,3%) <--- 13. Dương (1%) Một số họ phổ biến khác: * Lý * Vương * Trịnh * Trương * Đinh * Lâm * Đoàn

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *