Những kỷ niệm về Lưỡng quốc Tướng quân Nguyễn Sơn

Tháng 8/2009, Nhà nước truy tặng Huân chương Hồ Chí Minh cho Tướng  Nguyễn Sơn. Trong buổi lễ đón nhận tại Bảo tàng Cách mạng, nhiều vị khách kể lại những hồi ức về vị tướng này.

Tướng Quân đội giảng tuyệt hay về Lôi Vũ, Truyện Kiều

Giáo sư sử học Đinh Xuân Lâm, ngày Tướng Sơn đưa bộ đội về Thanh, mới có 22 tuổi, đang dạy văn tại trường Đào Duy Từ. Ông nhớ lại: “Khi được đọc bản dịch của giáo sư Đặng Thái Mai về vở kịch “Lôi Vũ”, chúng tôi đã thấy rất thích, nhưng trong buổi nghe Tướng Sơn giảng về “Lôi Vũ”, chúng tôi thấy hấp dẫn vô cùng. Ông hiểu tường tận cả về tác giả, cả từng nhân vật trong tác phẩm. Sau đó, ông còn giảng về Truyện Kiều của Nguyễn Du. Ông “xuất khẩu thành thơ”, tôi nghe rất mê, ghi nhớ từng lời.Ảnh tướng Nguyễn Sơn

Tuy ông là tướng quân nhưng tôi chẳng có mấy kỷ niệm với ông về quân sự. Là giáo viên dạy văn, thông qua những buổi xem đoàn chèo, đoàn kịch của quân khu tập làm cho tôi hiểu rõ và biết yêu nghệ thuật tuồng, chèo. Vở chèo đầu tiên gây ấn tượng sâu sắc nhất với tôi là vở “Súy Vân giả dại”…”.

Cuối những năm 40, khi ta còn nhiều khó khăn, Nguyễn Sơn cho mời các văn nghệ sĩ (Nguyễn Công Hoan, Trần Văn Cẩn, Phạm Duy, Hồ Dzếnh…) vào quân khu, chu cấp cho gạo, tiền để họ có thời gian sáng tác, phục vụ bộ đội. Khu Bốn được coi là nơi tập trung nhiều văn nghệ sĩ và có nhiều tác phẩm bất hủ cho công cuộc kháng chiến.

Học trò giỏi nhất của Bác Hồ về “đường lối chiến tranh nhân dân”

Trung tướng Đỗ Văn Đức, nguyên Phó Tổng tham mưu trưởng QĐNDVN, cựu học viên khóa 1 Võ bị Trần Quốc Tuấn (1946) và là giáo viên từ khóa 2; ông còn được theo Hiệu trưởng Võ bị khóa 2 Nguyễn Sơn cho tới ngày quay trở lại Trung Quốc (1950). Ông Đỗ Văn Đức nhớ lại:

– Anh Nguyễn Sơn trông bên ngoài đúng là “râu hùm hàm én, mặt vuông chữ điền, rất dữ dằn”, nhưng ai đã sống với anh thì mới thấy anh yêu lính vô cùng, yêu đồng đội đồng chí, thương anh em. Anh là con người sống rất tình cảm.
Buổi trò chuyện với 3 hàng binh người Đức tại Chiến khu Việt Bắc. (Từ trái qua, hàng đứng: các ông Lưu Văn Lợi, Nguyễn Sơn, Hoàng Văn Thái… Hàng ngồi: ông Tạ Quang Bửu, 2 hàng binh, vợ chồng Võ Đại tướng).
Buổi trò chuyện với 3 hàng binh người Đức tại Chiến khu Việt Bắc. (Từ trái qua, hàng đứng: các ông Lưu Văn Lợi, Nguyễn Sơn, Hoàng Văn Thái… Hàng ngồi: ông Tạ Quang Bửu, 2 hàng binh, vợ chồng Võ Đại tướng).

Theo tôi, anh là học trò giỏi nhất của Bác Hồ về “đường lối chiến tranh nhân dân”. Có nhiều kỉ niệm về việc này… Chẳng hạn bấy giờ ở thôn Mậu, làng Cổ Định, bọn phản động khống chế, chèn áp, dọa nạt nhân dân. Bà con lo lắng, không an tâm làm ăn, sinh sống. Nghe báo cáo, anh Sơn quyết định đưa hẳn 1 đại đội Thiếu sinh quân về đóng quân. Lính trẻ như con em họ, về sống “ba cùng” với dân, làm tốt “công tác dân vận” nên dần dần bà con hiểu và quyết tâm đi theo kháng chiến.

Trong huấn luyện bộ đội, anh là người đầu tiên áp dụng “Đại hội tập”. Khi thực hiện, chúng tôi cũng chỉ nghĩ đơn giản là anh cho luyện quân thôi. Quân đi đến đâu thì tiến hành “Đại hội tập” ở đó. Ngày đóng quân ở Thanh Hóa, “bộ đội ông Sơn” hành quân từ Tĩnh Gia vòng ra bờ biển, trở về Nông Cống. Luyện tập xong là giúp ngay địa phương xây dựng lực lượng kháng chiến.

Bộ đội rút quân đi thì cử lại 1 cán bộ của quân khu triển khai thực hiện. Đến khi tổng kết mới hiểu ra rằng, mục đích của “Đại hội tập” là:

1. Giáo dục nhân dân tích cực kháng chiến, dũng cảm đánh Pháp.

2. Răn đe thực dân Pháp: Kháng chiến toàn dân mạnh như vậy đấy, hãy coi chừng!

3. Rèn luyện cán bộ, rèn luyện bộ đội chịu đựng gian khổ trong chiến tranh. Qua đó nhiều cán bộ trưởng thành. Quân khu đào tạo cán bộ không chỉ cho Liên khu 4 mà cho cả toàn quân. Nhiều sư đoàn đã về xin cán bộ.

“Đại hội tập” ngày nay gọi là “Hội thao”. Luyện tập xong là phải thi thố, đánh giá kết quả huấn luyện, có khen thưởng, có phê bình.

Ngày “Đại hội tập”, đêm hội diễn văn nghệ. Các đơn vị phải tự biên, tự diễn các tiết mục của mình. Quân ông Sơn đến đâu sôi nổi cả một vùng, làm dân thêm tin tưởng vào đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện của Cụ Hồ.

Cậu Nguyễn Sơn đi xe đạp bằng… mông

Ông Vũ Ngọc Phan và bà Lê Hằng Phương (chị của bà Lê Hằng Huân – vợ ông Sơn) có 2 người con trai là Vũ Tuyên Hoàng và Vũ Huyền Giao. Hôm đó, anh Giao xúc động nhớ tới “cậu Sơn”:

“Chiều chiều, bộ đội ở Quân khu bộ của cậu Sơn đều chơi bóng chuyền. Tôi con bé thích ra xem. Nghịch lắm, thấy bóng là đá văng mạng. Có lần đá vào cả phòng họp, nhưng cậu chỉ nhắc nhẹ nhàng. Rồi cậu bảo với bố mẹ tôi: “Anh chị phải dạy thằng Giao cẩn thận, không sau này thành tướng cướp!”.

Bố mẹ tôi lúc đó nuôi 8 chị em chúng tôi và nuôi thêm 2 anh Phan Vịnh, Phan Diễn (giúp bác Lê Thị Xuyến đang công tác ở Việt Bắc). Tổng cộng 10 nhóc, kiếm miếng ăn rất vất vả. Thấy vậy, cậu Sơn giúp bố mẹ tôi bằng cách cho tôi và anh Phan Diễn vào học trường Thiếu sinh quân Khu 4 (mặc dù chúng tôi chưa phải là giao liên và bố mẹ cũng không phải cán bộ quân đội).

Cậu Sơn có cái xe Stec-ling và đi xe đạp rất tài, bọn trẻ con rất bái phục. Cậu ít khi cầm ghi-đông mà đút 2 tay vào túi quần, lái xe bằng mông. Dù đường ngoài đồng, hay trên bờ nông giang chỉ rộng khoảng 30 phân, hai bên là gờ cỏ mà cậu vẫn đi xe điêu luyện.

Có lần đang chăn trâu dưới cánh đồng, thấy cậu phóng xe qua mà không dám gọi. (Gọi lỡ làm cậu ngã xuống nông giang, sâu những 6-7m thì nguy hiểm!). Còn cậu thì chăm chú nhìn xuống đường, chẳng để ý đến ai. Có lần phóng nhanh quá, gặp barie chắn đường của dân quân không kịp dừng, tay cũng không kịp bỏ ra, cứ thế dùng mông lái xe lượn ra ngoài rào chắn. May không ngã. Anh dân quân tức giận, quát:

– Đi thế à? Cứ làm như ông tướng ấy!

Cậu Sơn cười xòa: “May mà tớ vừa được phong tướng!”. Tôi nể phục tính ngang tàng của cậu. Sau này, tôi cũng tập đi xe đạp theo kiểu của cậu và 1 lần bị ông lái xe buýt mắng, lần khác bị công an giao thông phạt.

… Năm 1954, anh Vũ Tuyên Hoàng và tôi được sang học tại Bắc Kinh. Đến nơi đúng dịp Quốc khánh 2/9, bọn tôi được mời đến Sứ quán. Đại sứ Hoàng Văn Hoan giới thiệu: “Hôm nay có một vị khách đặc biệt đến dự là Tướng Nguyễn Sơn”. Chúng tôi mừng quá.

Rồi cứ chủ nhật, cậu lại cùng dì Huân và các em Hà, Cương đến thăm chúng tôi ở trường Đại học Bắc Kinh (lúc đó lưu học sinh Việt Nam tại đây có khoảng 100).

Khoảng tháng 10/1956, tôi đến thăm cậu tại một ngôi nhà cổ của Thành cổ Bắc Kinh. Dì Huân không có nhà. Cậu Sơn ngồi trên ghế bành, tay cầm tờ báo, mồm ngậm thuốc lá. Trước mặt đủ các loại báo chí. Tôi ngồi bên cạnh mà không biết cậu vừa mổ xong. Đến khi cậu rút cặp sốt trong người ra, mới giật mình: 41 độ rưỡi! Sợ quá, tôi nhắc cậu phải “bảo trọng!”.

Cậu hút thuốc rất nhiều. Cậu rải thuốc ra các đĩa, để khắp nơi – bàn làm việc, cửa sổ, đầu giường… tiện tay là lấy hút, không cần phải rút ra từ bao. Cho tới nay tôi chưa gặp ai hút thuốc ghê như vậy.

Lúc ra về, cậu tiễn tôi ra cổng. Vài tuần sau, đọc báo thấy tin: Cậu mất tại Hà Nội! Thế là chúng tôi mất cậu!”.

Trần Kiến Quốc

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *